Vừa qua, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2776/QĐ-UBND, ngày 20/8/2026 về phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Theo đó, tổng số cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp của tỉnh hiện tại là: 1.861 đơn vị, trong đó:
Đơn vị trực thuộc UBND tỉnh và sở, ngành khác: Có 05 trường, gồm: Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Vĩnh Phúc; Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc; Trường Cao đẳng nghề Phú Thọ; Trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ và Trường Trung cấp Y tế Hoà Bình (thuộc Sở Y tế).
Đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo: 158 đơn vị, cụ thể: Trường cao đẳng, trường nghề: 05 trường, gồm: Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình, 03 trường cao đẳng nghề khu vực Hòa Bình (Cao đẳng nghề Sông Đà, Cao đẳng kinh tế- kỹ thuật, Cao đẳng kỹ thuật công nghệ), 01 Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú. Trường chuyên biệt: 20 trường, gồm 03 trường THPT chuyên, 16 trường Dân tộc nội trú có cấp trung học phổ thông, 01 trường giáo dục chuyên biệt (là những trường không thực hiện sáp nhập theo định hướng của Trung ương). Trung tâm GDTX- GDNN: 33 đơn vị, trong đó 03 Trung tâm GDTXlà Trung tâm cấp tỉnh; 01 Trung tâm KTTH- HN; 29 Trung tâm GDNN- GDTX. Trường THPT: 100 trường (khu vực Phú Thọ 36 trường, khu vực Vĩnh Phúc 24 trường, khu vực Hòa Bình 40 trường).
Đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của UBND các xã, phường: Có 1.698 đơn vị, với 684 điểm trường, cụ thể: Cấp mầm non có 650 trường, trong đó có 21 trường có quy mô từ 20 lớp trở lên, tỉ lệ 3,2%); 490 trường có quy mô từ 9 đến dưới 20 lớp, tỉ lệ 75,4%; 139 trường có quy mô dưới 9 lớp, tỉ lệ 21,4% (theo quy định trường quy mô tối thiểu 09 nhóm, lớp và tối đa 30 nhóm, lớp. Đối với trường tại các xã thuộc vùng khó khăn, xã có quy mô dân số dưới 5.000 người có quy mô tối thiểu 05 nhóm, lớp). Tỷ lệ bình quân trẻ/lớp: 23,0 trẻ/lớp. Số điểm trường: 436. Cấp tiểu học có 439 trường, trong đó có 86 trường có quy mô từ 25 lớp trở lên, tỉ lệ 19,6%; 334 trường có quy mô từ 10 đến dưới 25 lớp, tỉ lệ 76,1%); 19 trường có quy mô dưới 10 lớp, tỉ lệ 4,3% (theo quy định, trường có quy mô tối thiểu 10 lớp và tối đa 40 lớp. Đối với trường tại các xã thuộc vùng khó khăn có quy mô tối thiểu 05 lớp). Tỉ lệ bình quân học sinh/lớp: 30,1 học sinh/lớp (theo quy định mỗi lớp có không quá 35 học sinh). Số điểm trường: 108. Cấp trung học cơ sở có 391 trường, trong đó có 73 trường có quy mô từ 20 lớp trở lên, tỉ lệ 18,7%); 306 trường có quy mô từ 8 đến dưới 20 lớp, tỉ lệ 78,3%); 12 trường có quy mô dưới 8 lớp, tỉ lệ 3,1% (theo quy định, trường có quy mô tối thiểu 08 lớp và tối đa 45 lớp). Tỉ lệ bình quân học sinh/lớp: 39,6 học sinh/lớp (theo quy định mỗi lớp có không quá 45 học sinh). Số điểm trường: 12. Trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có 218 trường, trong đó có 104 trường có quy mô từ 20 lớp trở lên, tỉ lệ 47,7%; 114 trường có quy mô dưới 20 lớp, tỉ lệ 52,3% (theo quy định, trường có quy mô tối thiểu 09 lớp và tối đa 50 lớp đối với trường có 02 cấp học). Tỉ lệ bình quân học sinh/lớp: 26,9 học sinh/lớp. Số điểm trường: 128.
Mục tiêu sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập theo chỉ đạo của Trung ương và các bộ, ngành liên quan; phù hợp với điều kiện hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và yếu tố đặc thù của tỉnh Phú Thọ, tạo điều kiện thuận lợi cho người học và nâng cao chất lượng giáo dục. Gắn việc sắp xếp với đổi mới mô hình quản trị nhà trường, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo; giảm số lượng cán bộ quản lý giáo dục, đồng thời tăng số lượng giáo viên trực tiếp giảng dạy. Sắp xếp, tinh gọn các cơ sở giáo dục công lập theo hướng mỗi đơn vị hành chính cấp xã phải đảm bảo tối thiểu 01 trường mầm non, 01 trường tiểu học, 01 trường trung học cơ sở công lập, cung ứng đủ cấp tiểu học, trung học cơ sở (hoặc 01 trường mầm non, không quá 02 trường phổ thông liên cấp), có tính đến yếu tố đặc thù theo địa bàn; thực hiện sắp xếp các trường THPT và các trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX, giáo dục nghề nghiệp phù hợp yêu cầu thực tế của tỉnh; mỗi trường có thể gồm một số phân hiệu, điểm trường.
Nguyên tắc sắp xếp: Việc sắp xếp phải thực hiện đối với tất cả các cấp học; tuân thủ các yêu cầu về chuyên môn và khoa học giáo dục; gắn với yếu tố đặc thù của từng địa phương (đặc điểm văn hóa, kinh tế, dân số, khoảng cách đi lại, cơ sở vật chất, đội ngũ…); không sắp xếp cơ học, chạy theo tỷ lệ giảm đầu mối bằng mọi giá. Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho trẻ em, học sinh đến trường; không tạo ra rào cản về chi phí hoặc khoảng cách địa lý và tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ huy động trẻ em, học sinh đến trường, đặc biệt, đối với vùng khó khăn. Cơ bản giữ nguyên cơ sở vật chất của hệ thống trường, lớp hiện có; việc điều chỉnh chỉ thực hiện khi đã tính toán đầy đủ phương án đi lại, cơ sở vật chất, đội ngũ, điều kiện học tập của học sinh và sự đồng thuận của cha mẹ học sinh. Quá trình sắp xếp phải bảo đảm tính ổn định, liên tục và không làm gián đoạn hoạt động giáo dục; việc kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ quản lý, giáo viên, cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ dạy học phải được triển khai đồng bộ, để các cơ sở giáo dục sau sắp xếp có thể vận hành ngay từ đầu năm học mới.
Tổng số cơ sở giáo dục trước sắp xếp 1.861 cơ sở giáo dục; sau sắp xếp còn lại: 655 cơ sở giáo dục; giảm 1.206 cơ sở giáo dục (tỷ lệ giảm 64,8%); số phân hiệu: 1.204; số điểm trường: 701.
UBND tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan và UBND xã, phường tổ chức triển khai Phương án tổng thể sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp thuộc phạm vi quản lý trên địa bàn tỉnh. Chủ trì, phối hợp với UBND các xã có liên quan xây dựng, hoàn thiện việc sắp xếp các đơn vị thuộc Sở theo Phương án tổng thể được duyệt. Rà soát số lượng giáo viên để điều động từ nơi (xã, phường, cơ sở giáo dục) thừa đến nơi thiếu; từ nơi thiếu ít đến nơi thiếu nhiều. Phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh ban hành hướng dẫn về nguyên tắc bố trí nhân sự khi sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục bảo đảm khoa học, đúng quy định và tiến độ. Nghiên cứu sắp xếp, bố trí theo hướng giảm số lượng cấp phó (có lộ trình) đối với các cơ sở giáo dục không sắp xếp thuộc thẩm quyền để đảm bảo thống nhất, đồng bộ với việc sắp xếp cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục thuộc diện sắp xếp. Thực hiện điều tiết đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên liên xã, phường trên cơ sở đề xuất của UBND các xã, phường khi thực hiện sắp xếp các cơ sở giáo dục theo đúng phương án vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Chỉ đạo các cơ sở giáo dục duy trì ổn định nền nếp, chất lượng dạy và học; bảo đảm thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông và các kế hoạch giáo dục đúng quy định của ngành. Tổng hợp kết quả thực hiện sắp xếp các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo theo quy định; hoàn thành trước ngày 30/8/2026.
Giao Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các xã, phường hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên bị ảnh hưởng do sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, GDNN thuộc phạm vi quản lý trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản hướng dẫn về nguyên tắc bố trí nhân sự khi sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục. Thẩm định Đề án sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo thẩm quyền.
Giao Sở Tài chính chủ trì hướng dẫn các cơ quan, đơn vị xử lý tài chính, ngân sách, tài sản công trong quá trình sắp xếp các cơ sở giáo dục, bảo đảm không gây thất thoát, tiêu cực, lãng phí. - Phối hợp tham mưu ưu tiên bố trí kinh phí để bảo đảm các điều kiện làm việc và thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chịu ảnh hưởng bởi quá trình sắp xếp.
Đảng ủy, UBND các xã, phường trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền địa phương quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về sắp xếp đơn vị SNCL trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; bảo đảm việc triển khai đúng mục tiêu, yêu cầu và tiến độ theo chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh. Báo cáo kết quả sắp xếp về Sở Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp báo cáo cấp trên theo quy định. Tổ chức tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và Nhân dân về chủ trương sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập. UBND các xã, phường trên cơ sở Phương án này được duyệt; tổ chức thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục; bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách cho đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên, người lao động theo thẩm quyền. Nghiên cứu sắp xếp, bố trí theo hướng giảm số lượng cấp phó (có lộ trình) đối với các cơ sở giáo dục không sắp xếp thuộc thẩm quyền để đảm bảo thống nhất, đồng bộ với việc sắp xếp cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục thuộc diện sắp xếp.
Các cơ sở giáo dục tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, trẻ em, học sinh, cha mẹ học sinh và cộng đồng dân cư để tạo sự đồng thuận, thống nhất trong triển khai thực hiện; nắm bắt diễn biến tư tưởng đội ngũ nhà giáo, học sinh và nhân dân trên địa bàn. Chủ động xây dựng phương án tổ chức dạy học, bảo đảm duy trì ổn định hoạt động của nhà trường và không làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, quyền học tập của trẻ em, học sinh. Phối hợp thực hiện việc bàn giao hồ sơ, tài chính, tài sản, cơ sở vật chất, đội ngũ và các nội dung có liên quan khi sắp xếp cơ sở giáo dục theo đúng quy định của pháp luật.
Thái Sơn