Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược: Bước đi đột phá để Việt Nam làm chủ công nghệ lõi và vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc phương thức phát triển của các quốc gia, công nghệ không còn chỉ là công cụ hỗ trợ tăng trưởng mà đã trở thành nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ và vị thế của mỗi nền kinh tế. Những quốc gia làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có lợi thế lớn trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhận thức rõ ý nghĩa đó, ngày 06/8/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Đây là một quyết định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng nền khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện đại, lấy công nghệ chiến lược làm động lực thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghệ cao trong khu vực và trên thế giới.

Xây dựng nền tảng công nghệ để nâng cao năng lực tự chủ quốc gia

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực về phát triển khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn chủ yếu tiếp nhận, ứng dụng hoặc cải tiến công nghệ từ bên ngoài. Năng lực nghiên cứu, làm chủ các công nghệ lõi còn hạn chế; tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp chưa cao; sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, kinh doanh chưa thật sự chặt chẽ.

Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, việc phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu không chỉ làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với an ninh công nghệ và chuỗi cung ứng. Chính vì vậy, Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được ban hành với mục tiêu tạo ra bước chuyển căn bản từ "ứng dụng công nghệ" sang "làm chủ công nghệ"; từ "gia công" sang "sáng tạo"; từ "tham gia" sang "dẫn dắt" ở một số lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Theo Quyết định, mục tiêu tổng quát của Chương trình là làm chủ, phát triển, hoàn thiện và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao; từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển các công nghệ chiến lược, đặc biệt là công nghệ lõi; hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.

Đây không chỉ là mục tiêu của riêng ngành khoa học và công nghệ mà còn là định hướng phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, khi tri thức và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực quan trọng nhất cho tăng trưởng.

Đặt ra các mục tiêu cụ thể, có thể đo lường và đánh giá

Một trong những điểm nổi bật của Chương trình là các mục tiêu được lượng hóa rất cụ thể theo từng giai đoạn, tạo cơ sở để tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả.

Trong giai đoạn 2026–2030, Chương trình đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Đồng thời, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế.

Việc nhấn mạnh yêu cầu thương mại hóa cho thấy định hướng rất rõ ràng của Chính phủ: nghiên cứu khoa học phải tạo ra giá trị thực tiễn, chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường thay vì chỉ dừng lại ở các kết quả nghiên cứu.

Chương trình cũng đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa đạt khoảng 40%, góp phần giảm phụ thuộc vào linh kiện, thiết bị và công nghệ nhập khẩu, đồng thời thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Đặc biệt, đến năm 2030 sẽ phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược, thông qua việc chủ trì hoặc tham gia các nhiệm vụ phát triển công nghệ trong khuôn khổ Chương trình. Trong số đó, ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Những con số này phản ánh rõ quan điểm lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, coi doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ thị trường.

Hướng tới làm chủ nhiều công nghệ chiến lược hơn trong giai đoạn 2031–2035

Không chỉ dừng lại ở mục tiêu trước mắt, Chương trình còn xác định rõ tầm nhìn dài hạn cho giai đoạn 2031–2035.

Theo đó, Việt Nam phấn đấu làm chủ 6 công nghệ chiến lược, đồng thời phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 15 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế.

Tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm thương mại hóa tiếp tục được duy trì ở tối thiểu 40%, qua đó hình thành năng lực sản xuất trong nước đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bên cạnh đó, Chương trình hướng tới phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Những mục tiêu này cho thấy định hướng không chỉ xây dựng các doanh nghiệp công nghệ mạnh trong nước mà còn hình thành các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước khẳng định thương hiệu công nghệ Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Năm nhóm nhiệm vụ và giải pháp tạo nền tảng cho sự phát triển

Để hiện thực hóa các mục tiêu đầy tham vọng, Chương trình đã xác định 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo. Đây là điều kiện tiên quyết để khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào các lĩnh vực công nghệ có tính chiến lược.

Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, tập trung vào các công nghệ lõi có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, hỗ trợ thương mại hóa và phát triển thị trường cho các sản phẩm công nghệ chiến lược, giúp các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được đưa vào sản xuất và đời sống.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác quốc tế, bảo đảm đủ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và kỹ sư đáp ứng yêu cầu của các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Thứ năm, theo dõi, đánh giá và điều phối việc thực hiện Chương trình, bảo đảm các nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng tiến độ.

Việc thiết kế đồng thời cả năm nhóm giải pháp cho thấy Chương trình không chỉ chú trọng nghiên cứu mà còn quan tâm đầy đủ đến thể chế, nhân lực, thị trường và cơ chế quản lý, tạo nên hệ sinh thái phát triển toàn diện.

Đẩy mạnh thương mại hóa và mở rộng thị trường cho sản phẩm công nghệ chiến lược

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Chương trình là dành nhiều nội dung cho việc hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm.

Theo đó, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước sẽ được thúc đẩy ưu tiên đặt hàng, mua sắm, thuê và sử dụng các sản phẩm công nghệ chiến lược được phát triển trong khuôn khổ Chương trình, theo đúng quy định của pháp luật.

Đây được xem là giải pháp quan trọng để tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm công nghệ "Made in Vietnam", giúp doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Song song với đó, Chương trình yêu cầu xây dựng và công bố tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia theo trình tự, thủ tục rút gọn, đồng thời phát triển năng lực đo lường, thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận đối với sản phẩm công nghệ chiến lược.

Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá chất lượng sẽ góp phần bảo đảm sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Chương trình còn hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu công nghệ, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Đây là những giải pháp có ý nghĩa thiết thực nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, biến kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế.

Hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược

Một nội dung rất đáng chú ý của Chương trình là định hướng hình thành chuỗi liên kết phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo đó, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ chiến lược, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu chuỗi, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp nhỏ và vừa, các viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học trong nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ.

Đây là mô hình liên kết được nhiều quốc gia có nền công nghệ phát triển áp dụng thành công. Thay vì hoạt động riêng lẻ, các chủ thể sẽ tận dụng thế mạnh của nhau để tạo nên chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến sản xuất và thương mại hóa.

Đối với Việt Nam, việc hình thành các chuỗi liên kết này sẽ góp phần khắc phục tình trạng "mạnh ai nấy làm", đồng thời thúc đẩy chia sẻ tri thức, nguồn lực và kinh nghiệm giữa các bên.

Quan trọng hơn, mô hình liên kết còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp lớn, từng bước nâng cao năng lực công nghệ và khả năng cạnh tranh.

Đầu tư cho con người – yếu tố quyết định thành công của Chương trình

Bất kỳ chiến lược phát triển công nghệ nào cũng không thể thành công nếu thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.

Vì vậy, Chương trình dành nhiều giải pháp để phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ.

Theo đó, sẽ tuyển chọn, sử dụng và có chính sách đãi ngộ đối với Tổng công trình sư, các chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc và nhân lực chất lượng cao trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, xây dựng, cập nhật và khai thác mạng lưới chuyên gia công nghệ chiến lược trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, phục vụ việc tuyển chọn chuyên gia, Tổng công trình sư, thành viên hội đồng tư vấn và nhân sự chủ chốt.

Đây là bước đi quan trọng nhằm huy động đội ngũ trí thức trong và ngoài nước, bảo đảm lựa chọn được những người có năng lực tốt nhất cho các nhiệm vụ trọng điểm.

Chương trình cũng yêu cầu xác định nhu cầu nhân lực chất lượng cao, gắn kết với các chương trình đào tạo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục đại học phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngay trong quá trình triển khai nhiệm vụ.

Cách tiếp cận này giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn, đồng thời hình thành đội ngũ nhân lực đáp ứng trực tiếp yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược.

Mở rộng hợp tác quốc tế để nâng tầm công nghệ Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, hợp tác quốc tế tiếp tục được xác định là một động lực quan trọng.

Chương trình khuyến khích thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, phát triển, làm chủ, chuyển giao và đồng phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời thu hút chuyên gia và các tổ chức khoa học, công nghệ nước ngoài tham gia thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình.

Song song với đó là việc tăng cường tham gia các hoạt động tiêu chuẩn hóa quốc tế, thúc đẩy thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm, kiểm định và chứng nhận đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược.

Điều này không chỉ giúp sản phẩm của Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mà còn mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường lớn, nâng cao uy tín của công nghệ Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1493/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược là dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.

Với các mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể cùng hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, phát triển công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa, xây dựng nguồn nhân lực đến mở rộng hợp tác quốc tế, Chương trình tạo nền tảng để Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, việc triển khai hiệu quả Chương trình sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược vững mạnh, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam vươn lên làm chủ công nghệ lõi, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới. Đây không chỉ là một chương trình khoa học và công nghệ, mà còn là một chiến lược đầu tư cho tương lai, tạo động lực mới để đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên số.

Thanh Long

Danh sách tin tức - bài viết
Lọc tin tức - bài viết
Chuyên mục:
Sự kiện:
Nội dung:

Thư viện video

Đổi mới công tác Tuyên giáo, tạo đồng thuận xã hội
Nhịp cầu ngoại giao văn hóa
Bắt nhịp làn sóng đầu tư
Thời sự Phú Thọ tối 25/6/2025: Gặp mặt, chia tay các đồng chí thôi tham gia BCH Đảng bộ tỉnh
Thời sự Phú Thọ tối 1/7/2025 | Ngày đầu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động