Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thông tin cơ sở đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, phương thức vận hành và khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân. Từ hệ thống truyền thanh, bảng tin, tuyên truyền trực tiếp ở thôn, tổ dân phố, thông tin cơ sở đang từng bước chuyển sang môi trường số, đa nền tảng, đa phương tiện và tương tác hai chiều. Đây không chỉ là sự thay đổi về công nghệ, mà còn là bước chuyển quan trọng trong phương thức đưa thông tin của Nhà nước đến với người dân và tiếp nhận thông tin từ người dân trở lại hệ thống quản trị.

Ngày 29/9/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1868/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2045. Chiến lược đặt ra một tầm nhìn mới: phát triển hệ thống thông tin cơ sở trở thành một hạ tầng số chiến lược trọng yếu của quốc gia, bảo đảm sự phát triển đồng bộ giữa “Thể chế - Mạng lưới - Hạ tầng - Dữ liệu - Nội dung - Nhân lực - Cơ chế và Công cụ đánh giá”.
Điểm đáng chú ý của Chiến lược là thông tin cơ sở không còn được nhìn nhận đơn thuần như một phương thức tuyên truyền ở địa bàn dân cư, mà được đặt trong tổng thể hệ sinh thái thông tin và quản trị số. Hệ thống này hướng tới trở thành kênh tương tác hai chiều giữa Nhà nước và người dân, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin thiết yếu nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đầy đủ. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chính quyền số ngày càng phát triển, dữ liệu ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và người dân ngày càng quen thuộc với việc tiếp nhận, trao đổi thông tin trên môi trường số.
Mục tiêu đến năm 2030 được xác định khá cụ thể. Hệ thống thông tin cơ sở trở thành hệ thống chủ lực, thiết yếu, cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ở địa phương và đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân thông qua nhiều loại hình phù hợp với nhu cầu, điều kiện của từng nhóm đối tượng. Cùng với đó là xây dựng nền tảng thông tin nguồn thông tin cơ sở dùng chung, thống nhất trên toàn quốc, trên cơ sở các hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở cấp tỉnh được tích hợp với hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở trung ương.
Đây là sự chuyển đổi từ mô hình truyền thông cơ sở theo hướng một chiều sang mô hình thông tin có khả năng kết nối, chia sẻ và tương tác. Người dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà ngày càng trở thành chủ thể tham gia vào quá trình thông tin. Những phản ánh, kiến nghị, nhu cầu và dữ liệu từ cơ sở, nếu được tiếp nhận, phân loại và xử lý đúng cách, sẽ trở thành nguồn thông tin có giá trị cho hoạt động quản lý, điều hành và hoạch định chính sách.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Chiến lược đặt ra những chỉ tiêu cụ thể, tạo cơ sở để chuyển các định hướng lớn thành kết quả có thể đo lường. Đến năm 2030, phấn đấu 90% hệ thống truyền thanh cấp xã ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được quản lý tập trung và vận hành hiệu quả. 90% thôn, tổ dân phố có cụm thu phát thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông, bảo đảm tối thiểu 80% hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố nghe được 3 kênh truyền thông số chính thống để cung cấp thông tin thiết yếu.
Cùng với hạ tầng là con người. 90% người làm công tác thông tin cơ sở cấp xã, tuyên truyền viên cơ sở được tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng về truyền thông số để thực hiện công tác tuyên truyền ở cơ sở. Đây là yêu cầu có tính quyết định, bởi công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể tự tạo ra hiệu quả truyền thông nếu thiếu đội ngũ có năng lực sử dụng, vận hành và khai thác công nghệ.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu 90% hoạt động sản xuất, biên tập và phân phối nội dung được thực hiện trên môi trường số; 90% người dân được tiếp cận thông tin thiết yếu qua ít nhất một loại hình thông tin cơ sở phù hợp. Người sử dụng thiết bị thông minh được tiếp cận thông tin qua nền tảng, ứng dụng số phù hợp với điều kiện hạ tầng và thiết bị. Những chỉ tiêu này cho thấy yêu cầu chuyển đổi số trong thông tin cơ sở không dừng ở việc đưa một hệ thống truyền thanh lên nền tảng công nghệ mới, mà phải tạo ra sự thay đổi toàn diện từ sản xuất nội dung đến phương thức phân phối và khả năng tiếp cận của người dân.
Trong quá trình đó, dữ liệu sẽ trở thành một nguồn lực quan trọng. Chiến lược đặt mục tiêu xây dựng và áp dụng bộ chỉ số đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở dựa trên dữ liệu; đồng thời ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số hiện đại trong quản trị, phân tích dữ liệu, cung cấp thông tin và hỗ trợ hoạt động thông tin cơ sở. Khi hiệu quả truyền thông được đo lường bằng dữ liệu, hoạt động thông tin cơ sở sẽ có điều kiện chuyển từ cách làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang cách làm dựa trên bằng chứng, có khả năng nhận diện nhu cầu và đánh giá kết quả cụ thể.
Nếu mục tiêu đến năm 2030 tạo nền móng cho một hệ thống thông tin cơ sở số, thì định hướng đến năm 2045 mở ra một bước phát triển cao hơn. Hệ thống thông tin cơ sở được xác định trở thành hạ tầng truyền thông hiện đại ở cấp cơ sở, có khả năng tương tác hai chiều giữa Nhà nước với người dân, vận hành trên môi trường số và trở thành một cấu phần của hệ thống điều hành quốc gia, kết nối với hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Khi đó, ranh giới giữa “thông tin cơ sở” và các hệ thống thông tin phục vụ quản trị nhà nước sẽ ngày càng được thu hẹp. Hệ thống thông tin cơ sở được kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng định danh, xác thực điện tử. Một bảng điều khiển (dashboard) quản lý, điều hành hoạt động thông tin cơ sở từ trung ương đến địa phương được hình thành, giúp cơ quan quản lý theo dõi, phân tích và đánh giá hoạt động thông tin trên phạm vi rộng theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực.
Tầm nhìn này đặt ra yêu cầu xây dựng một kiến trúc thông tin cơ sở thống nhất, nhưng vẫn đủ linh hoạt để thích ứng với đặc điểm từng địa phương. Cơ sở dữ liệu, nền tảng dùng chung và các chuẩn kết nối cần được tổ chức theo hướng liên thông, tránh tình trạng phát triển manh mún, thiếu khả năng chia sẻ dữ liệu. Khi dữ liệu được kết nối, thông tin từ cơ sở mới thực sự trở thành một bộ phận của năng lực quản trị quốc gia.
Đến năm 2045, Chiến lược đặt mục tiêu 100% thôn, tổ dân phố có cụm thu phát thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông vận hành thông suốt, hiệu quả; bảo đảm 100% hộ gia đình trong toàn thôn, tổ dân phố nghe được thông tin từ cụm thu phát thanh. Mục tiêu này cho thấy dù công nghệ số phát triển mạnh, các phương thức thông tin phù hợp với điều kiện thực tế của cộng đồng dân cư vẫn giữ vai trò quan trọng. Chuyển đổi số không có nghĩa là loại bỏ những phương thức truyền thông đang phát huy hiệu quả, mà là hiện đại hóa chúng, kết nối chúng với hệ sinh thái thông tin mới.
Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt là mục tiêu 100% phản ánh, kiến nghị của người dân thuộc phạm vi hoạt động thông tin cơ sở được tiếp nhận qua các loại hình thông tin cơ sở; được phân loại, xử lý, phân tích tự động và tích hợp vào hệ thống dữ liệu phục vụ điều hành, hoạch định chính sách. Đây chính là biểu hiện rõ nhất của quá trình chuyển từ truyền thông một chiều sang tương tác hai chiều.
Khi một ý kiến của người dân không chỉ được tiếp nhận mà còn được phân loại, phân tích và đưa vào hệ thống dữ liệu, thông tin cơ sở sẽ có thêm một chức năng quan trọng: cung cấp tín hiệu từ xã hội cho hoạt động quản trị. Những vấn đề xuất hiện ở cộng đồng dân cư có thể được nhận diện sớm hơn; những nhóm đối tượng cần thông tin có thể được xác định cụ thể hơn; cơ quan quản lý có thêm dữ liệu để điều chỉnh phương thức truyền thông và tổ chức thực hiện chính sách.
Trong xã hội số, tốc độ cung cấp thông tin có ý nghĩa rất lớn, nhất là đối với những tình huống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của người dân. Bởi vậy, Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2045, 100% tình huống khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh được phát tin cảnh báo sớm trên đài truyền thanh cấp xã và các loại hình thông tin cơ sở phù hợp tại khu vực chịu ảnh hưởng trong thời gian ngắn nhất. Việc tích hợp hệ thống cảnh báo thiên tai, hỏa hoạn, phòng, chống dịch bệnh vào hệ thống truyền thanh cấp xã sẽ góp phần nâng cao khả năng phản ứng nhanh từ cơ sở.
Một hệ thống thông tin hiện đại cũng phải bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng. Chiến lược đặt mục tiêu 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo được cung cấp gói nội dung thông tin cơ sở số phù hợp về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán và điều kiện tiếp cận thiết bị số. Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển đổi số thực sự bao trùm, không để khoảng cách về địa lý, điều kiện kinh tế hay khả năng tiếp cận công nghệ trở thành khoảng cách về thông tin.
Để đạt được những mục tiêu đó, Chiến lược xác định 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế phối hợp; phát triển hạ tầng kỹ thuật, nền tảng số và bảo đảm an ninh mạng; phát triển nguồn nhân lực thông tin cơ sở; đổi mới nội dung, phương thức cung cấp thông tin và đo lường hiệu quả truyền thông; tăng cường phối hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh, thông tin đối ngoại.
Trong đó, phát triển hạ tầng kỹ thuật và nền tảng số là điều kiện quan trọng để tạo sự chuyển biến về chất. Hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở trung ương sẽ được phát triển, nâng cấp thành nền tảng số dùng chung phục vụ quản lý, đánh giá hiệu quả, cung cấp và chia sẻ dữ liệu về thông tin cơ sở. Các hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở cấp tỉnh được kết nối liên thông với hệ thống trung ương. Cách tiếp cận này tạo nền tảng cho việc hình thành một hệ thống thống nhất, hạn chế phân mảnh dữ liệu và tạo khả năng điều hành xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở.
Cùng với đó, Chiến lược đặt ra yêu cầu nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin cơ sở; kết nối, chia sẻ với kho dữ liệu văn hóa số để phục vụ quản lý, đánh giá hiệu quả hoạt động, cung cấp thông tin, cá nhân hóa nội dung và tương tác với người dân. Đây là bước phát triển quan trọng bởi dữ liệu không chỉ phục vụ lưu trữ mà còn trở thành cơ sở để lựa chọn nội dung, phương thức và thời điểm cung cấp thông tin phù hợp.
Các kênh truyền thông số cấp xã cũng được chú trọng phát triển, duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động, gồm trang thông tin điện tử, trang hoặc tài khoản chính thức trên mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin trên Internet và các nền tảng số phù hợp. Điều đó tạo nên một hệ thống truyền thông cơ sở đa kênh, giúp thông tin được đưa đến người dân theo phương thức phù hợp với thói quen, điều kiện và khả năng tiếp cận của từng nhóm.
Cùng với hiện đại hóa công nghệ, yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu được đặt ra rõ ràng đối với hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở. Khi hệ thống ngày càng kết nối sâu với các cơ sở dữ liệu và nền tảng số, yêu cầu bảo vệ dữ liệu và duy trì an toàn hệ thống càng trở nên quan trọng. Hạ tầng thông tin cơ sở phải không chỉ hiện đại, tiện dụng mà còn an toàn, tin cậy và có khả năng vận hành ổn định.
Công nghệ chỉ tạo ra nền tảng; nội dung mới là yếu tố quyết định sức sống của truyền thông. Chiến lược yêu cầu ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phù hợp để hỗ trợ sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin cơ sở, đồng thời bảo đảm nội dung chính xác, dễ hiểu, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng địa bàn.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh môi trường thông tin ngày càng phong phú, tốc độ lan truyền nhanh và người dân có nhiều lựa chọn về nguồn thông tin. Thông tin cơ sở muốn phát huy vai trò phải bảo đảm tính chính xác, thiết thực, dễ tiếp nhận và gắn với những vấn đề cụ thể của đời sống. Ứng dụng AI vì vậy cần được đặt trong quy trình quản lý nội dung chặt chẽ, hỗ trợ con người chứ không thay thế trách nhiệm kiểm chứng, biên tập và bảo đảm độ tin cậy của thông tin.
Thông tin cơ sở cũng được xác định là một phương tiện quan trọng để truyền thông, phổ biến và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam; góp phần xây dựng môi trường văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Như vậy, nhiệm vụ của hệ thống không chỉ là cung cấp thông tin hành chính hay thông tin thiết yếu, mà còn góp phần xây dựng đời sống văn hóa và củng cố sự gắn kết trong cộng đồng.
Một điểm mới có ý nghĩa lâu dài là yêu cầu nghiên cứu, xây dựng và ban hành bộ chỉ số đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin cơ sở dựa trên dữ liệu; tích hợp công cụ tự động đo lường trên hệ thống thông tin nguồn thông tin cơ sở. Khi có bộ chỉ số thống nhất, hiệu quả của thông tin cơ sở có thể được đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể hơn, từ mức độ tiếp cận, khả năng tương tác đến hiệu quả cung cấp thông tin trong từng nhóm địa bàn và đối tượng.
Để những mục tiêu ấy trở thành hiện thực, yếu tố con người vẫn giữ vị trí trung tâm. Đội ngũ làm công tác thông tin cơ sở phải được trang bị không chỉ kiến thức tuyên truyền mà cả kỹ năng số, kỹ năng sản xuất nội dung đa phương tiện, khai thác dữ liệu và sử dụng các nền tảng số. Trong môi trường truyền thông mới, người làm thông tin cơ sở cần có khả năng chuyển hóa những chủ trương, chính sách và thông tin thiết yếu thành nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với từng cộng đồng dân cư.
Từ nay đến năm 2030 là giai đoạn đặt nền móng. Những mục tiêu về hạ tầng, nền tảng, dữ liệu, nhân lực và nội dung cần được triển khai đồng bộ để tạo ra một hệ thống thông tin cơ sở có khả năng vận hành thống nhất nhưng linh hoạt. Từ nền móng đó, giai đoạn hướng tới năm 2045 sẽ tập trung hình thành hệ sinh thái thông tin cơ sở thông minh, trong đó trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số hiện đại được ứng dụng rộng rãi để cá thể hóa việc cung cấp thông tin và tăng cường tương tác với người dân.
Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2045 vì thế không đơn thuần là kế hoạch hiện đại hóa một hệ thống truyền thông. Đây là bước chuẩn bị cho một hạ tầng thông tin mới ở cơ sở, nơi công nghệ, dữ liệu, nội dung và con người được kết nối trong một chỉnh thể. Từ chiếc loa truyền thanh đến nền tảng số; từ cung cấp thông tin một chiều đến tương tác hai chiều; từ truyền đạt thông tin đến tiếp nhận và phân tích phản ánh của người dân, thông tin cơ sở đang đứng trước một quá trình chuyển đổi sâu sắc.
Khi hệ thống ấy được vận hành đồng bộ, thông tin thiết yếu có thể đến với người dân nhanh hơn, chính xác hơn và phù hợp hơn; đồng thời tiếng nói từ cơ sở có thể được chuyển hóa thành dữ liệu phục vụ quản trị. Đó chính là nền tảng để thông tin cơ sở trở thành một bộ phận hữu cơ của chính quyền số, xã hội số và hệ thống điều hành quốc gia, góp phần xây dựng nền quản trị hiện đại, lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong kỷ nguyên số.
Thanh Long