UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 38/KH-UBND ngày 30/9/2026 về đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Kế hoạch nhằm cụ thể hóa đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết số 258/NQ-CP phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh; xác định rõ đầu việc, thời hạn, sản phẩm và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Xác định cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; lấy thời gian, chi phí tuân thủ và mức độ hài lòng làm thước đo chất lượng thực hiện. Gắn cải cách TTHC với chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm người đứng đầu; bảo đảm vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Đổi mới thực chất, toàn diện công tác cải cách TTHC, trọng tâm là cắt giảm, đơn giản hóa tối đa TTHC
Theo Kế hoạch, tỉnh đặt ra mục tiêu đổi mới thực chất, toàn diện công tác cải cách TTHC, trọng tâm là cắt giảm, đơn giản hóa tối đa TTHC, điều kiện kinh doanh; chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản trị rủi ro; tăng cường kiểm soát thực thi dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2027, 100% TTHC đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; 100% kết quả giải quyết TTHC được số hoá và tái sử dụng dữ liệu, đồng thời bảo đảm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết TTHC mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có yêu cầu khác; 100% TTHC nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước đủ điều kiện được thực hiện trên môi trường điện tử; 100% chế độ báo cáo của doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện điện tử; 100% thông tin giấy tờ, tài liệu trong các TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính nhà nước.
Đến năm 2030, 100% dịch vụ công thiết yếu được tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính tổ chức thực hiện trong phạm vi toàn quốc (sau khi có văn bản của các Bộ, ngành Trung ương) tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công; 100% dịch vụ công được cung cấp chủ động khi đã bảo đảm điều kiện về dữ liệu và hạ tầng số; chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) trong giải quyết TTHC đạt tối thiểu 95%; 100% phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính được tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả đúng thời hạn quy định.
Bảo đảm không làm phát sinh thêm TTHC, điều kiện kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không cần thiết so với kết quả phân quyền, phân cấp, cắt giảm, đơn giản hoá TTHC, điều kiện kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại 11 Nghị quyết của Chính phủ thực hiện Kết luận số 18-KL/TW.
Công tác chỉ đạo điều hành, đánh giá cải cách TTHC được thực hiện dựa trên dữ liệu theo thời gian thực, gắn với đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức.
Đổi mới toàn diện cơ chế rà soát, đơn giản hoá TTHC theo hướng dựa trên dữ liệu và quản lý theo vòng đời sự kiện của người dân, doanh nghiệp. Số hoá, triển khai thực hiện kiểm soát TTHC hoàn toàn trên môi trường số; bảo đảm nguyên tắc “người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần”, tăng cường tái sử dụng dữ liệu và quản trị dựa trên dữ liệu, theo thời gian thực.
Phối hợp khai thác, sử dụng hiệu quả Cổng Dịch vụ công quốc gia theo định hướng trở thành “một cửa số” của quốc gia; bảo đảm kết nối, tích hợp, cung cấp dịch vụ công thuộc thẩm quyền của tỉnh theo lộ trình và yêu cầu của Chính phủ.
Cắt giảm, đơn giản hoá TTHC, điều kiện kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm người đứng đầu
Để đạt được các mục tiêu trên, UBND tỉnh đề ra 06 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
Một là, xác định cắt giảm, đơn giản hoá TTHC, điều kiện kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Thực hiện cải cách TTHC thống nhất, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, bao gồm cả TTHC với người dân, doanh nghiệp và TTHC nội bộ trong các cơ quan hành chính nhà nước. Gắn cải cách TTHC với kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động công vụ và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; kiên quyết xoá bỏ cơ chế xin – cho, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, cục bộ, lợi ích nhóm trong xây dựng và thực thi TTHC. Gắn kết quả cải cách TTHC với đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức coi đây là tiêu chí quan trọng trong công tác cán bộ.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với tái cấu trúc quy trình giải quyết TTHC, lấy dữ liệu làm nền tảng. Tập trung số hoá toàn diện, liên thông dữ liệu, thực hiện dịch vụ công chủ động; lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, công khai, minh bạch, ổn định, cạnh tranh lành mạnh. Thúc đẩy kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Hệ thống thông tin giải quyết TTHC; tăng cường việc thay thế hoặc cắt giảm thành phần hồ sơ trong các TTHC được thực hiện theo mức độ hoàn thành và đưa vào vận hành của các cơ sở dữ liệu; chuẩn hoá, công bố quy trình nội bộ, quy trình điện tử, tích hợp triển khai trên Hệ thống giải quyết TTHC tập trung, Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Ba là, rà soát, thực hiện việc phân cấp, uỷ quyền giải quyết TTHC; bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về phân cấp, uỷ quyền; người đứng đầu các cơ quan, đơn vị tổ chức tiếp nhận, giải quyết các TTHC đã được trung ương phân quyền, phân cấp bảo đảm thông suốt, không xảy ra tình trạng gián đoạn, chậm trễ trong giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức.
Bốn là, gắn kiểm soát TTHC với việc hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện TTHC tại các cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, xử lý tình trạng phát sinh thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu hoặc quy trình giải quyết ngoài quy định.
Năm là, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, nâng cao năng lực số cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC; huy động sự tham gia tích cực từ người dân, doanh nghiệp trong thiết kế, ban hành, thực thi, giám sát, đánh giá TTHC, lấy phản hồi của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả cải cách TTHC. Nâng cao hiệu quả xử lý phản ánh, kiến nghị về TTHC; định kỳ tổ chức đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các hiệp hội về cắt giảm, đơn giản hóa TTHC; thiết lập cơ chế tiếp nhận, theo dõi, xử lý phản ánh, kiến nghị, sáng kiến qua đối thoại, làm cơ sở xây dựng phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC.
Sáu là, nghiên cứu, triển khai mạng lưới Kiosk dịch vụ công thông minh tại các khu vực công cộng, trung tâm hành chính. Yêu cầu tích hợp công nghệ xác thực sinh trắc học, đọc thẻ căn cước công dân gắn chíp đồng bộ với nền tảng VNeID, hỗ trợ người dân (đặc biệt là nhóm yếu thế) dễ dàng tiếp cận và hoàn thành TTHC không dùng tiền mặt.
Ngọc An