Kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới đã xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ phục vụ phát triển đất nước. Việc cụ thể hóa các chủ trương này đang mở ra cơ hội mới để các địa phương, trong đó có Phú Thọ, khai thác hiệu quả tiềm năng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Nếu trước đây nguồn lực phát triển chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên thì hiện nay tri thức, công nghệ và các tài sản trí tuệ đang ngày càng giữ vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.

Thực tiễn phát triển trên thế giới cho thấy những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đều là những quốc gia biết coi trọng việc tạo lập, bảo hộ và khai thác hiệu quả các tài sản trí tuệ. Các sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền, chỉ dẫn địa lý hay bí quyết công nghệ không chỉ bảo vệ thành quả sáng tạo mà còn tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế.
Ngày 17/6/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 51-KL/TW về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới. Kết luận tiếp tục khẳng định quyền sở hữu trí tuệ là nguồn lực quan trọng của quốc gia, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đây không chỉ là sự kế thừa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học và công nghệ mà thể hiện quyết tâm xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sở hữu trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, bảo vệ lợi ích quốc gia và khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về sở hữu trí tuệ theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Những vấn đề mới phát sinh từ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số, công nghệ sinh học hay các mô hình kinh tế mới đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được cập nhật kịp thời nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ.
Cùng với hoàn thiện thể chế, việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tăng cường ứng dụng công nghệ số trong đăng ký, xác lập và quản lý quyền sở hữu trí tuệ được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm. Đây là điều kiện quan trọng để giảm chi phí, thời gian cho người dân, doanh nghiệp và khuyến khích các chủ thể tích cực tham gia hoạt động đổi mới sáng tạo.
Một trong những nội dung nổi bật của Kết luận số 51-KL/TW là yêu cầu thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn còn khá lớn. Nhiều kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu chưa được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, chưa tạo ra giá trị kinh tế tương xứng với tiềm năng.
Vì vậy, việc phát triển thị trường khoa học công nghệ, thị trường quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện cơ chế định giá tài sản trí tuệ; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu được xem là giải pháp quan trọng nhằm đưa tri thức trở thành nguồn lực trực tiếp của phát triển. Khi tài sản trí tuệ được khai thác hiệu quả, những ý tưởng sáng tạo sẽ có cơ hội trở thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế cụ thể.
Song song với việc tạo lập và khai thác tài sản trí tuệ, công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tiếp tục được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Trong điều kiện kinh tế số phát triển mạnh mẽ, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng ngày càng phức tạp. Tình trạng hàng giả, hàng nhái, vi phạm bản quyền và sử dụng trái phép các sản phẩm sáng tạo không chỉ gây thiệt hại cho các chủ thể quyền mà còn làm suy giảm động lực đổi mới sáng tạo của xã hội.
Do đó, việc nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng và xây dựng văn hóa tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ trong cộng đồng là những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây chính là nền tảng để xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh, công bằng và bền vững.
Đối với Phú Thọ, sở hữu trí tuệ thời gian qua đã có những bước chuyển biến tích cực, từng bước góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của tỉnh đã được quan tâm xây dựng, bảo hộ và phát triển thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Tiêu biểu là sản phẩm bưởi Đoan Hùng được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, góp phần khẳng định uy tín, chất lượng và nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Các vùng chè trọng điểm của tỉnh cũng từng bước xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể, hỗ trợ người sản xuất nâng cao giá trị hàng hóa và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây là những minh chứng sinh động cho thấy sở hữu trí tuệ đã và đang trở thành công cụ quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Những năm gần đây, tỉnh cũng quan tâm triển khai hỗ trợ xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu cho các sản phẩm chủ lực. Nhiều sản phẩm OCOP đã chú trọng hơn đến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, cải tiến bao bì, tem truy xuất nguồn gốc và xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu. Qua đó, giá trị sản phẩm từng bước được nâng cao, khả năng tiếp cận thị trường ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, công tác sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều dư địa cần tiếp tục khai thác. Hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học chưa thực sự mạnh; số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được đăng ký bảo hộ còn khiêm tốn; năng lực quản trị tài sản trí tuệ của một bộ phận doanh nghiệp, hợp tác xã còn hạn chế. Điều đó đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ hơn nhằm đưa sở hữu trí tuệ trở thành một động lực phát triển thực sự.
Việc quán triệt và triển khai hiệu quả Kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị vì thế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các địa phương. Thông qua việc phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao nhận thức xã hội về giá trị của tài sản trí tuệ, các địa phương sẽ có thêm điều kiện để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Kết luận số 51-KL/TW đã mở ra những định hướng quan trọng nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Đối với Phú Thọ, việc cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp mà Bộ Chính trị đề ra không chỉ góp phần bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ mà tạo động lực để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương. Khi sở hữu trí tuệ thực sự trở thành nguồn lực phát triển, những giá trị được tạo ra từ tri thức, khoa học và công nghệ sẽ góp phần quan trọng đưa Phú Thọ cùng cả nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và hiện đại.
Tiến Đức