Vừa qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TU, ngày 30/7/2026 về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Theo đó, quan điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh là quán triệt, triển khai thực hiện nhất quán các quan điểm về phát triển nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các nghị quyết của Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ thường xuyên, mang tính cấp bách; là một trong các khâu đột phá chiến lược, yếu tố quyết định nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng; tạo nền tảng quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Phát triển nguồn nhân lực phải phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển của tỉnh theo từng giai đoạn, bảo đảm tính bao phủ và công bằng; hài hòa về cơ cấu, cân đối về nhân lực theo ngành, lĩnh vực và theo vùng. Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với trang bị kỹ năng, kiến thức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; đồng thời đặt đúng vị trí giáo dục nghề nghiệp là trụ cột phát triển nguồn nhân lực.
Mục tiêu chung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh có năng lực, trình độ, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thể chất, phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc chuyên nghiệp, hiện đại; có số lượng và cơ cấu phù hợp với nhu cầu sử dụng, chất lượng không ngừng được nâng cao; đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của tỉnh. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho các nhóm ngành nghề trọng điểm, mũi nhọn theo định hướng phát triển của tỉnh. Hình thành phương thức quản trị nguồn nhân lực của tỉnh theo hướng hiện đại, minh bạch, đồng bộ gắn với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80% - 85%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 40% - 45%. Tỷ lệ thất nghiệp khoảng 0,9% - 1,1%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân trên 12%/năm. Tỷ trọng đào tạo các ngành STEM: 40%. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 30%. Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi 15 - 25 học giáo dục nghề nghiệp đạt 20%. Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động. Tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số qua đào tạo nghề nghiệp đạt 50%. Tỷ lệ lao động là người khuyết tật còn khả năng lao động được học nghề phù hợp đạt 40%. Tỷ lệ lao động được trang bị kỹ năng số cơ bản đạt 90%. Tối thiểu 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, trong đó 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tối thiểu 70% cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 100% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. Phấn đấu khoảng 90% ngành, nghề đào tạo được xây dựng, cập nhật chuẩn đầu ra theo Khung trình độ quốc gia. Hình thành 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm tại các khu vực Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình (cũ), trong đó có tối thiểu 01 trường cao đẳng nghề đạt tiêu chí trường cao đẳng nghề trọng điểm quốc gia. Đào tạo và bồi dưỡng 5.000 chuyên gia, kỹ sư, kỹ thuật viên, người có kiến thức, kỹ năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030. Nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và công việc; phát triển môi trường sử dụng ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Hoàn thiện mô hình quản trị mới về nhân lực theo nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả); áp dụng chu trình quản trị “4 bước”: Lập kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Cải tiến (PDCA) trong quản lý, giám sát và cải tiến chính sách nhân lực. Xây dựng và vận hành phần mềm quản trị mục tiêu - chính sách toàn diện, phục vụ quản lý và điều hành theo mô hình mới. Hình thành bộ chỉ số đánh giá chất lượng nhân lực gắn với thị trường lao động.
Tầm nhìn đến năm 2045: Nguồn nhân lực của tỉnh có chất lượng, trí tuệ, tri thức và kỹ năng phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng mục tiêu xây dựng Phú Thọ trở thành một tỉnh phát triển trong vùng Trung du và miền núi phía Bắc và cả nước.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đề ra 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động để phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực tạo đột phá về phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của tỉnh trong giai đoạn mới. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao, trình độ cao. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển nguồn nhân lực. Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển nguồn nhân lực tăng cường hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học, trung tâm đào tạo trong nước để đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng nghề cao cho tỉnh.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chỉ đạo Đảng ủy Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành cơ chế, chính sách cần thiết và bảo đảm nguồn lực thực hiện hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng đề án, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết; phối hợp với Đảng ủy Hội đồng nhân dân tỉnh cụ thể hóa đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết này và bảo đảm đủ nguồn lực thực hiện. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động, huy động Nhân dân thực hiện Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện Nghị quyết. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức quán triệt và tuyên truyền các nội dung của Nghị quyết. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát việc triển khai Nghị quyết; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận kiểm tra, kiến nghị sau giám sát, định kỳ báo cáo theo quy định. Các Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì theo dõi, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết.
Phương Thảo