Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 vừa ký Quyết định số 11/QĐ-BCĐCP ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban Chỉ đạo. Đây không chỉ là một bước triển khai nhiệm vụ thường niên, mà thể hiện rõ sự chuyển hướng chiến lược trong tư duy phát triển. Nếu giai đoạn trước đây tập trung xây dựng thể chế, thì năm 2026 được xác định là năm chuyển trọng tâm sang tổ chức thực hiện, giám sát, đo lường và đánh giá kết quả đầu ra. Điều này phản ánh yêu cầu cấp thiết của thực tiễn: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể dừng lại ở chính sách hay chương trình hành động, mà phải trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng góp thực chất vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ảnh minh họa (nguồn internet)
Gắn kết nghiên cứu – ứng dụng – thị trường: Tạo chu trình giá trị hoàn chỉnh
Một trong những định hướng nổi bật của Kế hoạch năm 2026 là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và thị trường. Trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực vẫn tồn tại khoảng cách với thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội. Không ít đề tài, dự án khoa học sau khi nghiệm thu vẫn chưa thể thương mại hóa, chưa hình thành sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Kế hoạch năm 2026 đặt trọng tâm khắc phục tình trạng này thông qua: Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu; hình thành doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo và khu công nghệ cao gắn với sản phẩm đầu ra
Đặc biệt, mục tiêu thương mại hóa thành công tối thiểu 5 sản phẩm thuộc danh mục công nghệ chiến lược như: chip bán dẫn, thiết bị mạng 5G, robot công nghiệp, trí tuệ nhân tạo hay thiết bị bay không người lái cho thấy cách tiếp cận mang tính lựa chọn trọng tâm, hướng tới tạo đột phá thay vì dàn trải.
Bên cạnh đó, việc hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn(spin-off) từ kết quả nghiên cứu của trường, viện là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất, nơi tri thức được chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Đo lường bằng đóng góp GDP: Từ tiềm năng sang tăng trưởng
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2026 phấn đấu đạt 14,5%. Tỷ trọng đóng góp của KHCN, ĐMST, CĐS trong GDP phấn đấu đạt 17,5%. Tập trung rà soát, ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy định chi tiết, biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành các luật được Quốc hội thông qua trong năm 2025, bảo đảm hiệu lực đồng bộ, thống nhất với luật, khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
Đột phá trong chuyển đổi số quốc gia
(1) Chuyển đổi số các cơ quan hành chính nhà nước: Về hạ tầng, nền tảng, dữ liệu số: Mở rộng phủ sóng 5G đạt 70% dân số. 100% cán bộ, công chức, viên chức cấp xã được bố trí trang thiết bị đáp ứng yêu cầu công việc và có chữ ký số cá nhân để giải quyết công việc trên môi trường điện tử.
100% hồ sơ công việc tại cơ quan hành chính nhà nước được xử lý trên môi trường điện tử (đối với hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì thúc đẩy việc xử lý trên hệ thống/mạng phù hợp theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước) và sử dụng chữ ký số chuyên dùng công vụ để giải quyết công việc; tỷ lệ văn bản, hồ sơ công việc tại cơ quan hành chính nhà nước được xử lý toàn trình trên môi trường điện tử đạt 80% tại cấp bộ, 70% tại cấp tỉnh, 70% tại cấp xã.
Về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến: Tỷ lệ thủ tục hành chính (TTHC) cung cấp dịch vụ công (DVC) trực tuyến toàn trình trên tổng số TTHC đủ điều kiện thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ, cơ quan (bao gồm các TTHC thực hiện tại cấp tỉnh, xã) đạt tối thiểu 80%.
Tỷ lệ TTHC cung cấp DVC trực tuyến toàn trình trên tổng số TTHC đủ điều kiện được giao quy định hoặc quy định chi tiết trong văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt tối thiểu 80%.
Tối thiểu 80% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các TTHC liên quan sản xuất, kinh doanh chỉ phải cung cấp một lần cho cơ quan nhà nước. 100% TTHC được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi cấp tỉnh.
Về phát triển kỹ năng số trong thực thi công vụ: 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số. 50% cán bộ, công chức, viên chức đảm nhiệm vị trí việc làm chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương được đào tạo, bồi dưỡng về quản trị dữ liệu.
(2) Kinh tế số: 100% TTHC đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được cung cấp DVC trực tuyến.
(3) Xã hội số: Tỷ lệ người dân, doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng DVC trực tuyến đạt tối thiểu 95%; triển khai chữ ký số miễn phí cho toàn dân trên ứng dụng VNeID.
Về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
(1) Thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm công nghệ chiến lược: Thương mại hóa thành công tối thiểu 05 sản phẩm thuộc Danh mục công nghệ chiến lược (Chip bán dẫn, thiết bị mạng 5G, robot công nghiệp, trí tuệ nhân tạo, UAV…); bố trí ít nhất 15% ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên cứu phát triển công nghệ chiến lược.
(2) Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đại học số: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách Khoa Hà Nội triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Thông báo số 45-TB/TGV ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương.
(3) Nâng cao hiệu quả quản trị nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo:
100% nhiệm vụ KH, CN, ĐMST có sử dụng ngân sách nhà nước được quản lý, cập nhật kịp thời, đầy đủ vòng đời nhiệm vụ (đặt hàng, tuyển chọn/giao trực tiếp, hợp đồng, giải ngân, nghiệm thu,…), theo dõi toàn trình trên Nền tảng số quản lý KH, CN, ĐMST.
(4) Nâng cao năng lực hạ tầng nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất thử phục vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Hình thành tối thiểu 09 hạ tầng dùng chung (phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu - phát triển, cơ sở kiểm thử/đánh giá/chứng nhận…), phục vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Tổ chức tối thiểu 03 không gian thử nghiệm thực tế (sandbox) tại các địa phương gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; bảo đảm mỗi địa phương có ít nhất 01 không gian, nhằm thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện và tiếp nhận kết quả nghiên cứu, sản phẩm, giải pháp mới; đồng thời bảo đảm có địa điểm thử nghiệm cụ thể, dữ liệu thử nghiệm phù hợp và cơ chế tiếp nhận, công nhận, chuyển giao kết quả vào thực tiễn quản lý, sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy các doanh nghiệp KHCN, ĐMST và CĐS trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ (được trích lập tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm).
(5) Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: Hình thành và đưa vào vận hành hiệu quả tối thiểu 03 trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại các địa phương gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; bảo đảm mỗi địa phương nêu trên có 01 trung tâm; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bảo đảm mức độ cạnh tranh ngang bằng và hướng tới vượt trội so với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực (như Singapore, Indonesia).
Tăng 30% số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startups) trong các lĩnh vực KH, CN, ĐMST và CĐS.
Hình thành mới tối thiểu 30 - 50 doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) hình thành từ kết quả nghiên cứu của trường - viện trong năm 2026, trong đó Hà Nội đạt tối thiểu 20 doanh nghiệp...
Về theo dõi, giám sát và đánh giá: 100% nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ được theo dõi, giám sát, đánh giá trên Hệ thống theodoinq.dcs.vn. Dữ liệu được cập nhật kịp thời, khách quan, có đối chiếu, kiểm chứng, gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan và người đứng đầu.
Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính và Đề án 06 được giao tại Phụ lục II kèm theo Kế hoạch này; các nhiệm vụ, giải pháp được Ban Chỉ đạo Trung ương giao tại Chương trình số 02-CTr/BCĐTW ngày 02 tháng 02 năm 2026 tại Phụ lục III kèm theo Kế hoạch này; các nhiệm vụ, giải pháp trong năm 2026 đã giao cho các bộ, ngành, địa phương tại Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025); các nhiệm vụ, giải pháp tại các Thông báo kết luận của Trưởng Ban Chỉ đạo, Lãnh đạo, Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương, Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương, Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Ban chỉ đạo cho thấy rõ một bước chuyển từ “xây dựng nền tảng” sang “tạo giá trị”. Thông qua việc gắn kết nghiên cứu với thị trường, đo lường đóng góp kinh tế, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số đang được định vị là động lực trung tâm của tăng trưởng. Năm 2026 sẽ trở thành dấu mốc quan trọng trong việc chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành sức mạnh phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Giang Nam