Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực chủ yếu để xác lập mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia. Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội và hiện đại hóa quản trị quốc gia; lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; lấy thị trường, hiệu quả thương mại hóa và tác động phát triển làm thước đo chủ yếu. Đó chính là quan điểm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được nêu tại Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng và dẫn dắt
Một trong những quan điểm cốt lõi của Chiến lược là Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng và dẫn dắt; tập trung đầu tư trọng điểm, đặt hàng các nhiệm vụ chiến lược và chuyển mạnh từ quản lý theo đề tài sang quản trị theo chương trình, sản phẩm và kết quả.
Đẩy mạnh tự chủ công nghệ. Tập trung ưu tiên nguồn lực cho phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, công nghệ số, công nghệ lõi; sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Nghiên cứu và phát triển công nghệ phải gắn với phát triển ngành công nghiệp, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.
Nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định. Phát triển đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia và doanh nhân công nghệ trình độ cao; hình thành lực lượng tổng công trình sư và chuyên gia công nghệ chiến lược; xây dựng môi trường nghiên cứu, sáng tạo minh bạch, cạnh tranh, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và trọng dụng nhân tài.
Phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện đại, đồng bộ, mở và dùng chung hiệu quả; coi dữ liệu, nền tảng số và năng lực tính toán là nguồn lực chiến lược mới. Chủ động hội nhập quốc tế có chọn lọc, kết hợp sức mạnh nội sinh với tri thức và công nghệ toàn cầu, bảo đảm chủ quyền công nghệ, an ninh công nghệ và lợi ích quốc gia.
Phát triển tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng
Chiến lược đặt ra mục tiêu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Phát triển tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng; hình thành năng lực làm chủ và phát triển một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia. Xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo
Chiến lược đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%.
Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới.
Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân.
Có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới.
Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm.
Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 - 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 -10%.
Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới.
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo.
Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới.
Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
Tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%.
Hình thành tối thiểu 5-10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.
Triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược là triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược:
Tổ chức triển khai các chương trình, nhiệm vụ quốc gia phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo danh mục được phê duyệt; lựa chọn một số sản phẩm ưu tiên để tập trung nguồn lực nghiên cứu, thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và ứng dụng, qua đó hình thành năng lực làm chủ công nghệ lõi và từng bước mở rộng sang các nhóm công nghệ chiến lược khác.
Ưu tiên phát triển công nghệ số và các nền tảng số cốt lõi, sản phẩm và dịch vụ công nghệ số trọng điểm “Make in Viet Nam” gắn với phát triển các ngành công nghiệp chiến lược có giá trị gia tăng và xuất khẩu cao.
Hình thành các dự án quốc gia gắn với các bài toán lớn của ngành, vùng, địa phương; thúc đẩy doanh nghiệp, viện, trường cùng tham gia triển khai để hình thành các ngành công nghiệp chiến lược, công nghiệp công nghệ số.
Phát triển hệ thống thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, an toàn và an ninh, ưu tiên cho các sản phẩm công nghệ chiến lược; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phương pháp đánh giá phù hợp với thông lệ quốc tế.
Phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo
Chiến lược chú trọng nhiệm vụ phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định, hoàn thiện và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản theo hướng kết hợp giữa tìm kiếm tri thức mới với đào tạo nhân lực trình độ cao, phát hiện nhân tài; chú trọng nghiên cứu cơ bản trong các ngành Việt Nam có thế mạnh như toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học dữ liệu và các liên ngành mới làm nền tảng cho việc tiếp thu, làm chủ và phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và công nghệ số.
Phát triển các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm hiện đại, nhóm nghiên cứu xuất sắc, các trường đại học trọng điểm; gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực chất lượng cao và phát triển công nghệ chiến lược.
Tăng cường nghiên cứu liên ngành giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; đẩy mạnh điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên, thiên tai, biến đổi khí hậu, môi trường, đa dạng sinh học và các vấn đề phát triển bền vững.
Phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược là phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia. Xây dựng, nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở thử nghiệm mở, nền tảng mô phỏng, nền tảng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng dùng chung phục vụ nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm sản phẩm công nghệ chiến lược.
Ưu tiên đầu tư hạ tầng cho các lĩnh vực có nhu cầu cấp thiết và khả năng lan tỏa lớn như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chip bán dẫn, mạng 5G/6G, robot, thiết bị bay không người lái, y - sinh học, an ninh mạng, năng lượng mới, vật liệu mới và công nghệ biển.
Phát triển hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số phục vụ thiết kế, mô phỏng, huấn luyện mô hình, thử nghiệm và sản xuất thử các sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ số trọng điểm; thúc đẩy kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Phát triển hạ tầng thử nghiệm, kiểm định, tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp nhằm hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các công nghệ mới; nâng cao năng lực của hệ thống hạ tầng chất lượng quốc gia phục vụ phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Phát triển hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao (khu công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở nghiên cứu). Hình thành và phát triển hạ tầng công nghệ cho công nghệ chiến lược, công nghiệp công nghệ số và sản phẩm công nghệ số trọng điểm.
Phát triển tổ chức khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao
Chiến lược cũng đề ra nhiệm vụ quan trọng là phát triển tổ chức khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, thực hiện việc sắp xếp, củng cố và nâng cao năng lực các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, gắn với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược; lựa chọn và hỗ trợ các viện nghiên cứu, trường đại học đồng hành với doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Thực hiện cơ chế tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ phù hợp đối với tổng công trình sư, chuyên gia đầu ngành và nhân tài trong các nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; bảo đảm giao quyền, giao trách nhiệm và gắn quyền lợi với kết quả thực hiện.
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên cho ngành công nghệ chiến lược; thu hút và sử dụng hiệu quả nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các dự án trọng điểm.
Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ và tài sản trí tuệ
Chiến lược đặc biệt quan tâm đến phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ và tài sản trí tuệ, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình nghiên cứu, phát triển, hấp thụ, làm chủ, cải tiến và thương mại hóa công nghệ, trọng tâm là công nghệ chiến lược; khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ trì hoặc đồng chủ trì các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ với hình thành doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số, ngành công nghiệp chiến lược và phát triển thị trường.
Hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp đổi mới công nghệ và doanh nghiệp công nghệ số trong việc mua, nhận chuyển giao, giải mã và làm chủ công nghệ; ưu tiên tài trợ, đặt hàng và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để giải quyết các bài toán phát triển của Việt Nam; hình thành và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp cung ứng thiết bị, linh kiện, phần mềm, dữ liệu và dịch vụ liên quan đến sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ số trọng điểm, gắn với nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu.
Hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp spin-off, spin-out và doanh nghiệp công nghệ tăng trưởng nhanh thông qua các công cụ tài chính, hạ tầng ươm tạo, thử nghiệm, xác nhận công nghệ, tư vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ và kết nối đầu tư.
Phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo hướng hiện đại, minh bạch và liên thông; phát triển các tổ chức trung gian, sàn giao dịch công nghệ, nền tảng giao dịch số và các dịch vụ chuyển giao công nghệ và tài sản trí tuệ.
Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển tài sản trí tuệ, tiêu chuẩn hóa và xây dựng thương hiệu sản phẩm công nghệ chiến lược; hình thành các quỹ và cơ chế hợp tác giữa viện, trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư để khai thác hiệu quả kết quả nghiên cứu.
Chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược là chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mở rộng hợp tác quốc tế có chọn lọc trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đầu tư; gắn hợp tác quốc tế với mục tiêu tiếp thu, làm chủ và đồng phát triển công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thu hút các tập đoàn công nghệ đa quốc gia, các tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới đặt trụ sở, trung tâm nghiên cứu và phát triển và tham gia phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Bên cạnh các nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, Chiến lược còn đưa ra 03 giải pháp đột phá nhằm đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, cụ thể: (1) Đột phá về thể chế, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (2) Đột phá về cơ chế tài chính và huy động nguồn lực; (3) Thực thi cơ chế giám sát, đánh giá và điều chỉnh Chiến lược.
Ngọc An