Chủ trương “Khoán hộ” – Giá trị thực tiễn 60 năm (1966-2026)

Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. 

Chủ trương “Khoán hộ” của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (nay là Tỉnh ủy Phú Thọ), đứng đầu là đồng chí Kim Ngọc - Bí thư Tỉnh ủy những năm 60 của thế kỷ XX, là một hướng đi tích cực trong việc tìm cách làm mới, quản lý mới, nhằm đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Đây là quá trình đổi mới tư duy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Vĩnh Phúc, là những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những cơ sở để Trung ương tham khảo, hoạch định đường lối đổi mới.

Bước vào thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, nông nghiệp, nông thôn miền Bắc đứng trước những khó khăn rất lớn. Sau cuộc chiến tranh xâm lược (1946 - 1954) của thực dân Pháp, hàng chục vạn héc ta ruộng đất bị bỏ hoang do bom đạn cày xới, hầu hết các công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất bị chiến tranh tàn phá, hư hỏng nặng; sức kéo và công cụ sản xuất thiếu nghiêm trọng... Trong bối cảnh đó, Đảng đã chủ trương tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã nhằm xóa bỏ “chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ăn riêng lẻ”.

Trong giai đoạn từ năm 1961 - 1965, bên cạnh một số kết quả nhất định, việc xây dựng các hợp tác xã sớm bộc lộ những hạn chế, bất cập. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, trình độ canh tác lạc hậu. Tư tưởng nóng vội, chạy theo phong trào nên làm lướt, làm ẩu, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự nguyện. Nhất là đội ngũ cán bộ hợp tác xã vừa yếu lại vừa thiếu, không đáp ứng được yêu cầu quản lý và kế hoạch hóa tập trung, dẫn đến sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh miền Bắc đình trệ.

Tại Vĩnh Phúc[1], phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được đẩy mạnh. Đến cuối năm 1960, toàn tỉnh đã thành lập 1.350 hợp tác xã; 141 xã có từ 91% đến 100% hộ nông dân tham gia hợp tác xã. Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp đều tăng qua các năm: Năm 1962 tăng 11,13% so với năm 1961; năm 1963 tăng 6,28% so với năm 1962; năm 1964 tăng 10,99% so với năm 1963...

Tuy nhiên, đến vụ đông xuân năm 1965 - 1966, diện tích và sản lượng một số cây trồng không đạt kế hoạch, đặc biệt, cây lương thực bị giảm sút nhiều, nhất là cây lúa. Diện tích gieo trồng cây lương thực chỉ đạt 72.354 ha (bằng 93,8% kế hoạch, bằng 96,1% so với năm 1965). Năng suất lúa cũng giảm, chỉ bằng 71,9% kế hoạch và bằng 75% so với năm 1965. Vì vậy, sản lượng lương thực quy thóc đạt 88.855 tấn, bằng 80,06% so với năm 1965.

Sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc và các tỉnh miền Bắc bị đình trệ, giảm sút là kết quả của nhiều nguyên nhân (do thời tiết khắc nghiệt, chiến tranh phá hoại, lực lượng lao động và các vật tư phục vụ sản xuất thiếu thốn trầm trọng,…). Trong đó, có nguyên nhân quan trọng từ những bất cập trong cơ chế quản lý, điều hành sản xuất của các hợp tác xã, dẫn đến tình trạng người nông dân không thiết tha, hăng hái lao động, sản xuất, thời gian làm việc trên đồng ruộng rất ít. Ở nhiều hợp tác xã, sau mỗi vụ mùa, người lao động chỉ được từ 2 đến 3 lạng thóc cho mỗi ngày công lao động. Đời sống của người nông dân bấp bênh, đói kém.

Sau khoảng thời gian trăn trở tìm tòi, tìm lời giải đáp từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, ngày 10/9/1966, Tỉnh uỷ mà đứng đầu là đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU “Về một số vấn đề quản lí lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. Cốt lõi của Nghị quyết là đổi mới cơ chế quản lí trong hợp tác xã nông nghiệp, nhằm tạo ra động lực mới trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân và đáp ứng yêu cầu đóng góp của địa phương đối với nhà nước ngày càng cao lúc đó.

Đồng chí Kim Ngọc (1917-1977)

Khoán hộ là giao ruộng, khoán sản phẩm cho các hộ gia đình. Hợp tác xã chỉ cung cấp giống, kỹ thuật, phân bón, thuốc trừ sâu. Đến vụ thu hoạch, người lao động nộp một phần sản phẩm cho hợp tác xã. Sản phẩm còn lại người lao động được hưởng. Vì vậy, sản phẩm làm ra gắn chặt với công sức và quyền lợi của người nông dân. Khả năng tự chủ của hộ gia đình đã được phát huy, mọi tiềm năng lao động được tận dụng.

Khoán hộ có ưu điểm nổi bật là tận dụng được lao động trong mỗi hộ gia đình để tập trung sản xuất, tạo quyền chủ động cho hộ xã viên trong quá trình sản xuất để mang lại hiệu quả cao nhất. Đồng thời, khoán hộ khắc phục được những tiêu cực trong quá trình sản xuất của các hợp tác xã, hạn chế nạn tham ô, lãng phí ở các đội sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp lúc đó. Đây là bước khởi đầu cho một tư duy mới về quản lí kinh tế hợp tác xã.

Chủ trương “Khoán hộ” khi được thực hiện ở các địa phương trong tỉnh đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở địa phương phát triển. Năm 1967, tỉnh đã có 75% số hợp tác xã thực hiện khoán hộ, tổng sản lượng quy thóc đạt 222 000 tấn, tăng 4 000 tấn so với năm 1966. Toàn tỉnh có 2 huyện, 46 xã, 160 hợp tác xã (chiếm 70% số hợp tác xã) đạt năng suất  trên 7 tấn/ha. Trong chăn nuôi, tổng đàn lợn của tỉnh có 307 000 con, tăng 20% so với năm 1966, đưa Vĩnh Phúc trở thành một trong 14 đơn vị ở miền Bắc vượt kế hoạch thu mua thịt lợn hơi.

Tuy vậy, ở thời điểm đó, khoán hộ bị coi là “đốt cháy giai đoạn”, không phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa của của Đảng về phát triển nông nghiệp nên không được triển khai rộng rãi. Bản thân đồng chí Kim Ngọc phải chịu nhiều sức ép nhưng ông vẫn giữ vững bản lĩnh của người lãnh đạo dám làm và dám chịu trách nhiệm, giữ vững niềm tin ở khoán hộ. Trên thực tế, khoán hộ ở Vĩnh Phúc vẫn lan tỏa, được vận dụng không chỉ ở Vĩnh Phúc mà cả một số địa phương khác tại miền Bắc.

Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc (ngồi đầu tiên bên trái) đến thăm và chỉ đạo sản xuất nông nghiệp tại xã Lãng Công, huyện Lập Thạch (nay là xã Yên Lãng, tỉnh Phú Thọ), năm 1966

Ngày 13/01/1981, từ tổng kết thực tiễn làm thử khoán sản phẩm ở các địa phương, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 100-CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong các hợp tác xã nông nghiệp (gọi là Khoán 100). Nội dung cốt lõi của Khoán 100 là “bước đầu tạo ra cơ chế quản lí mới để hộ xã viên phát huy quyền làm chủ sản xuất kinh doanh, tạo động lực bằng lợi ích kinh tế, kích thích họ bỏ vốn, sức lao động, đẩy mạnh phát triển sản xuất, đây cũng là khâu đột phá để chuyển cơ chế quản lí hợp tác xã từ mô hình cũ từng bước sang mô hình mới”

Tiếp đó, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (gọi là “Khoán 10”). “Khoán 10” thừa nhận “hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ” trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất đến phân phối, sử dụng sản phẩm. Nếu như “Khoán 100” chỉ nhắc đến nhóm lao động thì “Khoán 10” một lần nữa khẳng định tư tưởng "giải phóng sức sản xuất" và trong các mối quan hệ về lợi ích, nhấn mạnh "nhất là lợi ích người lao động". Từ đây, chức năng kinh tế của hộ nông dân được xác lập trở lại, là đơn vị kinh tế tự chủ, cơ bản trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Chủ trương khoán hộ là sự đổi mới tư duy, vượt trước thời đại trong lĩnh vực quản lý nông nghiệp, nông thôn và nông dân; là kết quả của quá trình đấu tranh giữa cái mới với cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu. Quá trình thăng trầm từ khoán hộ đến “Khoán 10” đã khẳng định khoán hộ ở Vĩnh Phúc chính là sự khởi đầu đúng đắn, là sự “tập dượt” đầu tiên cho sự ra đời và triển khai “Khoán 10” sau này. Mặt khác, khoán hộ đã hình thành, chứng minh giá trị trong thực tiễn của tinh thần chủ động, tự giác tham gia xây dựng, phát triển kinh tế của người nông dân trong việc phát triển kinh tế quê hương, đất nước. Vì vậy, có thể coi khoán hộ đặt nền tảng, cơ sở cho quá trình đổi mới của nông nghiệp Việt Nam. Con đường đó bắt đầu từ cơ sở, từ thực tiễn sản xuất, trải qua nhiều thử nghiệm, đúc rút những bài học và kinh nghiệm mới đi đến thành công.

Những thay đổi to lớn mà khoán hộ và sau này là “Khoán 10” đã khẳng định vai trò quan trọng, quyết định của cơ chế quản lý trong nông nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra nhằm tiếp tục công cuộc đổi mới nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với Đảng, Nhà nước ta ngày càng trở nên cấp bách. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp ở nước ta hiện nay, những bài học kinh nghiệm quý báu, tư duy “đột phá”, “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc với chủ trương khoán hộ ở Vĩnh Phúc cần phải được tiếp tục kế thừa và phát huy.

Vân Nam

 


[1] Tháng 02-1950, tỉnh Vĩnh Yên sáp nhập tỉnh Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc.

 

Danh sách tin tức - bài viết
Lọc tin tức - bài viết
Chuyên mục:
Sự kiện:
Nội dung:

Thư viện video

Đổi mới công tác Tuyên giáo, tạo đồng thuận xã hội
Nhịp cầu ngoại giao văn hóa
Bắt nhịp làn sóng đầu tư
Thời sự Phú Thọ tối 1/7/2025 | Ngày đầu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động