Phú Thọ tạo nền tảng mới từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trong thời gian qua, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Từ Trung ương đến địa phương, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt, đồng bộ, liên tục, thông suốt, từng bước đưa các chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống. Cùng với đó, hệ thống thể chế được tập trung hoàn thiện, hạ tầng số được mở rộng, dữ liệu được chú trọng xây dựng, kết nối và khai thác; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đến thời điểm này của năm 2026, Chính phủ đã trình Quốc hội 1 luật và ban hành 40 nghị định, 10 quyết định quy phạm pháp luật liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; thể chế phục vụ triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược từng bước được hoàn thiện, từ luật, nghị định đến các thông tư hướng dẫn. Đây là cơ sở quan trọng để các nhiệm vụ không chỉ được triển khai theo tinh thần chỉ đạo mà còn có hành lang pháp lý đồng bộ, tạo điều kiện cho nguồn lực xã hội tham gia.

Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 11/NQ-CP, Chương trình số 02-CTr/BCĐTW và các kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo của Chính phủ đã có chuyển biến tích cực. Điều quan trọng là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được nhìn nhận trong mối quan hệ thống nhất: khoa học tạo ra tri thức và công nghệ mới; đổi mới sáng tạo đưa tri thức, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và quản trị; còn chuyển đổi số tạo ra môi trường, phương thức và hạ tầng mới để khai thác những giá trị đó ở quy mô rộng hơn.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiều kết quả cụ thể đã được ghi nhận. Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia đã kết nối dữ liệu với 15 sàn của địa phương, từng bước hình thành không gian kết nối cung - cầu công nghệ, góp phần đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với thị trường. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt xấp xỉ 54,2%, cho thấy công nghệ cao tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong cơ cấu xuất khẩu.

Hoạt động nghiên cứu và công bố khoa học cũng có bước tiến. Đã có 2.647 công bố quốc tế trên Scopus. Các bộ, cơ quan đã đề xuất 38 nhiệm vụ nhằm giải quyết 11 bài toán công nghệ chiến lược. Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành thẩm định 28 trong số 38 nhiệm vụ; 6 bộ, cơ quan đã phê duyệt 14 nhiệm vụ và đang tuyển chọn tổ chức thực hiện. Những kết quả này cho thấy định hướng phát triển công nghệ chiến lược đang từng bước chuyển từ xác định mục tiêu sang tổ chức thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, gắn nghiên cứu với các bài toán đặt ra trong thực tiễn.

Trong xây dựng Chính phủ số và triển khai Đề án 06, những kết quả đạt được ngày càng thể hiện rõ giá trị của việc xây dựng, kết nối và khai thác dữ liệu. Đã tích hợp 8 nhóm thông tin, giấy tờ trên VNeID, trong đó có 18,9 triệu tài khoản hưởng an sinh xã hội, 25,8 triệu giấy phép lái xe và 24,2 triệu thông tin tình trạng hôn nhân. Đây là những dữ liệu có ý nghĩa thiết thực đối với việc đơn giản hóa thủ tục, giảm giấy tờ và từng bước hình thành phương thức cung cấp dịch vụ công dựa trên dữ liệu.

Cùng với đó, đã hoàn thành đồng bộ 8/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 69/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành về Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Cơ sở dữ liệu đảng viên đang quản lý hơn 5,3 triệu hồ sơ, tỷ lệ làm sạch đạt 99,83%. Đã đồng bộ 148 triệu thuê bao vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hoàn thành xử lý SIM rác, SIM không chính chủ. Những kết quả này cho thấy quá trình xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia đang chuyển dần từ giai đoạn hình thành sang kết nối, làm sạch, chuẩn hóa và khai thác.

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với chuyển đổi số là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và thủ tục hành chính. Thực hiện Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP, các vướng mắc về thể chế và thủ tục hành chính cơ bản được xử lý. Các địa phương đã hoàn thành rà soát những vấn đề còn vướng mắc và ban hành danh mục thủ tục hành chính ưu tiên tái thiết kế quy trình theo yêu cầu “6 rõ”. Bộ Tư pháp đã tổng hợp hơn 470 văn bản quy phạm pháp luật có nội dung mâu thuẫn, cản trở chuyển đổi số để đề xuất phương án sửa đổi.

Đây là công việc có ý nghĩa không chỉ đối với cải cách hành chính mà còn đối với chất lượng của quá trình chuyển đổi số. Nếu quy trình cũ được đưa nguyên trạng lên môi trường điện tử thì công nghệ khó tạo ra thay đổi thực chất. Chuyển đổi số vì vậy phải đi cùng cải cách thể chế, tái thiết kế quy trình và thay đổi phương thức quản trị. Giá trị cuối cùng phải được đo bằng thời gian, chi phí, chất lượng phục vụ và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp.

Trong dòng chảy chung đó, Phú Thọ đang triển khai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng ngày càng gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Một điểm nổi bật là chuyển đổi số của tỉnh đang chuyển mạnh từ đầu tư hạ tầng sang khai thác nền tảng, dữ liệu và cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người dân, doanh nghiệp. Dữ liệu ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực quản trị.

Những con số trong 8 tháng đầu năm 2026 cho thấy sự chuyển dịch đó. Tỷ lệ người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến đạt 64,8%, tương đương 99,7% kế hoạch năm. Tỷ lệ cán bộ, công chức cấp tỉnh làm chủ kỹ năng số, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành đạt 93%, hoàn thành 100% kế hoạch năm. Tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận và giải quyết trực tuyến đạt 97,42%; tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết đạt 95,62%. Đặc biệt, 100% thủ tục hành chính được tiếp nhận phi địa giới trong phạm vi tỉnh. Công nghệ ngày càng được tích hợp sâu vào quy trình xử lý, thay vì chỉ dừng ở việc đưa thông tin lên môi trường điện tử. Khi người dân có thể thực hiện thủ tục không phụ thuộc vào địa giới hành chính, khi hồ sơ được số hóa và xử lý trực tuyến, khoảng cách giữa người dân với cơ quan công quyền được rút ngắn bằng chính công nghệ.

Đây cũng là thước đo thực chất hơn đối với hiệu quả chuyển đổi số. Giá trị của chuyển đổi số không nằm đơn thuần ở số lượng phần mềm được xây dựng hay số hồ sơ được đưa lên hệ thống, mà ở khả năng rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra thay đổi trong phương thức vận hành của bộ máy và trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ.

Để chuyển đổi số đi vào chiều sâu, hạ tầng số tiếp tục giữ vai trò nền tảng. Trong 8 tháng đầu năm 2026, hạ tầng số của Phú Thọ tiếp tục được đầu tư, mở rộng và duy trì ổn định. Tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 65% dân số, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, 100% khu công nghiệp, đô thị trung tâm được phủ sóng 5G. Hệ thống truyền số liệu chuyên dùng đã được triển khai đến 100% xã, phường và cơ quan cấp tỉnh.

Đề án Chuyển đổi số của tỉnh xác định 48 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 và 18 nhiệm vụ đột phá, ưu tiên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030. Việc lượng hóa mục tiêu thành các chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể tạo cơ sở để tổ chức thực hiện có trọng tâm, đồng thời thuận lợi hơn trong theo dõi, đánh giá kết quả.

Cùng với hạ tầng viễn thông, các hệ thống nền tảng phục vụ hoạt động của chính quyền tiếp tục được duy trì. Trung tâm tích hợp dữ liệu hoạt động ổn định 24/24 giờ; hệ thống thư điện tử công vụ duy trì liên tục với hơn 50.000 tài khoản. Các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu, hội nghị trực tuyến, mạng diện rộng, hệ thống thông tin báo cáo và phòng họp không giấy tờ tiếp tục được vận hành, góp phần hình thành môi trường làm việc số trong các cơ quan nhà nước.

Nếu hạ tầng là điều kiện cần thì dữ liệu đang trở thành yếu tố quyết định chiều sâu của chuyển đổi số. Phú Thọ đang nghiên cứu, triển khai thử nghiệm Hệ thống quản trị, điều hành phát triển kinh tế - xã hội trên nền tảng dữ liệu số theo thời gian thực. Tỉnh đồng thời triển khai Chiến dịch 90 ngày xây dựng, hoàn thiện Kho dữ liệu tỉnh và ban hành Từ điển dữ liệu tỉnh Phú Thọ phiên bản 1.0. Đây là những bước đi quan trọng để chuẩn hóa dữ liệu, tạo cơ sở kết nối, chia sẻ và khai thác thống nhất. Trung tâm IOC bước đầu hỗ trợ theo dõi, giám sát, phân tích, dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên, hoạt động quản trị có điều kiện chuyển từ phản ứng với vấn đề đã xảy ra sang nhận diện xu hướng, theo dõi tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu, kết quả đầu ra.

Cùng với đó, Phú Thọ chú trọng làm giàu, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành Trung ương với hệ thống thông tin của tỉnh. Đây là quá trình cần được thực hiện liên tục, bởi dữ liệu chỉ phát huy giá trị khi bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, thống nhất, được cập nhật và có khả năng chia sẻ trong một hệ sinh thái chung.

Song hành với chuyển đổi số, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh cũng được triển khai theo hướng gắn với yêu cầu phát triển thực tiễn. Đề án Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đề ra 7 chỉ tiêu chủ yếu và 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa Phú Thọ trở thành địa phương có năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc nhóm khá trong vùng.

Tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới xây dựng Phú Thọ trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có uy tín của khu vực phía Bắc, với hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện đại, năng động, hội nhập và có sức cạnh tranh cao. Định hướng này cho thấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không được đặt tách rời khỏi phát triển kinh tế - xã hội mà trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển dài hạn.

Một nội dung đáng chú ý là Đề án Thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo tỉnh Phú Thọ. Trung tâm dự kiến được tổ chức lại từ đơn vị sự nghiệp hiện có, hướng tới phát triển các không gian nghiên cứu, thử nghiệm, đào tạo, kết nối đầu tư và thương mại hóa công nghệ. Nếu được tổ chức và vận hành hiệu quả, đây có thể trở thành một đầu mối kết nối giữa khu vực nghiên cứu, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý, qua đó rút ngắn hơn khoảng cách từ ý tưởng, kết quả nghiên cứu đến sản phẩm và thị trường.

Từ thực tiễn triển khai có thể thấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang bước vào giai đoạn đòi hỏi sự chuyển biến về chất. Hạ tầng tiếp tục phải được hoàn thiện, nhưng trọng tâm không thể chỉ là đầu tư thêm hệ thống. Điều quan trọng hơn là khai thác hiệu quả những gì đã có, hình thành các nền tảng dùng chung, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, đồng thời đưa công nghệ vào sâu hơn trong sản xuất, kinh doanh, quản trị và cung cấp dịch vụ.

Phía trước vẫn còn nhiều nhiệm vụ cần tiếp tục thực hiện. Đó là nâng cao chất lượng dữ liệu; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ và người dân; tăng khả năng hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế để không tạo ra những rào cản mới đối với đổi mới sáng tạo. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực, công nghệ trở thành công cụ sản xuất, đổi mới sáng tạo trở thành phương thức tạo giá trị và chuyển đổi số trở thành phương thức quản trị, những nền tảng được xây dựng hôm nay sẽ có thể chuyển hóa thành năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong những năm tới.

Giang Nam

Danh sách tin tức - bài viết
Lọc tin tức - bài viết
Chuyên mục:
Sự kiện:
Nội dung:

Thư viện video

Đổi mới công tác Tuyên giáo, tạo đồng thuận xã hội
Nhịp cầu ngoại giao văn hóa
Bắt nhịp làn sóng đầu tư
Thời sự Phú Thọ tối 1/7/2025 | Ngày đầu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động