Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ngày 06/4/2026, UBND tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 1061/QĐ-UBND về Phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Đội tuyển Toán Kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia THPT năm học 2025-2026 (Ảnh internet)

Đề án đề ra mục tiêu tổng quát: Phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ theo hướng đồng bộ, chất lượng, hiệu quả và bền vững, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Quy hoạch, sắp xếp cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực ngoại ngữ; lấy chất lượng giáo dục thực chất và kết quả đầu ra của người học làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Đến năm 2030, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn tỉnh Phú Thọ nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước; khẳng định vai trò trung tâm giáo dục, đào tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc; tầm nhìn đến năm 2045, chất lượng giáo dục và đào tạo tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

Đối với giáo dục mầm non: Tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt 42% đối với trẻ nhà trẻ, 99% đối với trẻ mẫu giáo; 100% trẻ em 5 tuổi ra lớp, tiếp tục duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3-5 tuổi. Phấn đấu 99,5% trẻ em mầm non được học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, bảo đảm trẻ em được phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện sẵn sàng vào học lớp 1. 100% số cơ sở giáo dục mầm non tại vùng thuận lợi, bảo đảm điều kiện triển khai thực hiện cho trẻ em được làm quen với tiếng Anh. Xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non đủ về số lượng, chuẩn hóa về trình độ, trong đó 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục, ít nhất 90% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn. Phát triển hợp lý cơ sở mầm non ngoài công lập, phấn đấu tỷ lệ trường mầm non dân lập, tư thục đạt 30%, số trẻ em theo học tại các cơ sở ngoài công lập đạt 35%, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục. Từng bước chuẩn hóa cơ sở vật chất, bảo đảm 100% phòng học kiên cố, 95% trở lên trường đạt chuẩn quốc gia.

Giáo dục phổ thông: (1) Bảo đảm 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1; duy trì tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi đạt tối thiểu 99,5% ở tiểu học và 98% ở trung học cơ sở; tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở đạt 99,5%, từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông và các trình độ khác đạt 95%, trong đó ít nhất 14% học sinh sau trung học cơ sở học chương trình trung học nghề. (2) Phấn đấu 60% trở lên học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học đại học. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%. 100% học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày, ít nhất 70% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông học 2 buổi/ngày; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt từ 99,8% trở lên, có học sinh đạt giải quốc gia, khu vực và quốc tế. Duy trì phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phấn đấu phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt mức độ 3. Từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho người học theo lộ trình phù hợp; trước hết triển khai tại khu vực đô thị, khu công nghiệp và cơ sở giáo dục có điều kiện. (3) Bảo đảm 100% học sinh phổ thông được học tiếng Anh theo chương trình quy định, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có khả năng giao tiếp đạt trình độ Bậc 3 của Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam; ít nhất 95% giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, trong đó phấn đấu 30-35% đạt chuẩn quốc tế theo Khung tham chiếu ngôn ngữ chung châu Âu. Xây dựng 55 trường dạy song ngữ (trung học phổ thông: 30 trường; trung học cơ sở: 15 trường; tiểu học: 10 trường). (4) Phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông 100% đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 35% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn; 100% cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng đạt chuẩn năng lực quản lý, trong đó trên 50% được bồi dưỡng quản trị nhà trường hiện đại; 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được bồi dưỡng kỹ năng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo. (5) Thành lập 01 trường trung học phổ thông công lập tại khu vực Việt Trì (cũ); phấn đấu số cơ sở giáo dục phổ thông tư thục đạt 5%, số học sinh theo học tại các cơ sở này đạt 5,5%; thu hút từ 1- 2 trường ngoài công lập chất lượng cao ở mỗi vùng (Phú Thọ, Hòa Bình, Vĩnh Phúc trước hợp nhất); thu hút trường liên cấp đạt chuẩn quốc tế, từ 01 đến 02 khu hoạt động trải nghiệm hiện đại. (6) Xây dựng các trường THPT chuyên: Vĩnh Phúc, Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ thành các trường trọng điểm chất lượng cao của tỉnh và cả nước theo hướng đạt chuẩn tiên tiến khu vực, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế; là trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Phát triển các cơ sở giáo dục phổ thông chất lượng cao tại địa bàn có điều kiện; mỗi khu vực kinh tế trọng điểm có ít nhất 01 cơ sở giáo dục phổ thông chất lượng cao, đồng bộ về hạ tầng, hiện đại về trang thiết bị. (7) Mở rộng tiếp cận công bằng trong giáo dục, bảo đảm mọi người học, đặc biệt là trẻ em khuyết tật và đối tượng yếu thế được học tập trong môi trường phù hợp, chất lượng và an toàn. (8) Bảo đảm 100% phòng học được kiên cố; ít nhất 70% cơ sở giáo dục phổ thông được trang bị phòng học, thiết bị dạy học số, hình thành kho học liệu số dùng chung; 100% cơ sở giáo dục sử dụng hệ thống quản lý và hồ sơ điện tử; tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%, trong đó ít nhất 30% đạt chuẩn mức độ 2.

Giáo dục thường xuyên: 100% học viên học chương trình giáo dục thường xuyên được học môn Tiếng Anh theo chương trình giáo dục phổ thông; Phấn đấu tỷ lệ người biết chữ mức độ 1 trong độ tuổi 15- 60 đạt 99,15%, trong đó ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt 98,85%; duy trì vững chắc chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.

Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp hợp lý và tăng cường đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp do tỉnh quản lý đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt trên 90%, người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%; người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%. Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Bảo đảm 100% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, trong đó ít nhất 40% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên; tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 35%, có tối thiểu 10 phó giáo sư; ít nhất 90% sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp. Hình thành 03 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm tại các khu vực Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình (cũ), trong đó có tối thiểu 01 trường cao đẳng nghề đạt tiêu chí trường cao đẳng nghề trọng điểm quốc gia. Phấn đấu hình thành khu, làng đại học gắn với đô thị tại khu vực Vĩnh Yên theo quy hoạch, thu hút các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp có uy tín tham gia đầu tư.

Mục tiêu đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045

Đến năm 2035: Hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh phát triển đồng bộ, toàn diện, tiếp tục được hiện đại hóa, công bằng, đa dạng loại hình, từng bước hội nhập quốc tế. Hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đóng góp tích cực vào chỉ số phát triển con người (HDI) của tỉnh và đạt trên 0,85; khẳng định vai trò trung tâm giáo dục và đào tạo của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, thuộc nhóm đứng đầu cả nước về chất lượng giáo dục. 85% trở lên cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; 02 trường chuyên tiệm cận quốc tế; 27 20% số trường phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực châu Á; xây dựng Trường Đại học Hùng Vương thành Đại học Hùng Vương.

Các chỉ tiêu chủ yếu: 100% giáo viên đạt chuẩn, trong đó mầm non ít nhất 95% trên chuẩn, phổ thông ít nhất 40% trên chuẩn; 100% trường công lập đạt chuẩn quốc gia, trong đó trên 40% đạt mức độ 2; trên 99,5% trẻ mầm non học 2 buổi/ngày; ít nhất 95% học sinh sau trung học cơ sở tiếp tục học trung học phổ thông hoặc tương đương; ít nhất 65% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học; 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt kiểm định chất lượng và liên kết doanh nghiệp; hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và tương đương.

Tầm nhìn đến năm 2045: Hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh hiện đại, công bằng và chất lượng, tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, có vị thế thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,9. Có 03 trường chuyên tiệm cận quốc tế; 30% số trường phổ thông đạt trình độ tiên tiến khu vực châu Á; 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đạt chuẩn quốc gia; Tiếng Anh được phổ biến như ngôn ngữ thứ hai. Mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh của tỉnh.

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đề ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Hai là, đột phá về cơ chế, chính sách đặc thù cho giáo dục và đào tạo.

Ba là, đột phá về mạng lưới cơ sở giáo dục, cơ sở vật chất và huy động nguồn lực xã hội.

Bốn là, đột phá về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và quản trị giáo dục.

Năm là, đột phá về chất lượng giáo dục toàn diện, đức, trí, thể, mỹ; chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và ngoại ngữ.

Sáu là, đột phá về giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao, trình độ cao và hội nhập quốc tế.

Bảy là, triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá, tạo chuyển biến thực chất về chất lượng giáo dục; siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý, bảo đảm thực thi chính sách thống nhất và bền vững.

Dự kiến nhu cầu Kinh phí thực hiện: Tổng nhu cầu kinh phí dự kiến thực hiện Đề án: 22.875.977 triệu đồng (không bao gồm các khoản chi thường xuyên); trong đó: Kinh phí huy động từ nguồn ngân sách nhà nước (chính sách đặc thù trường chuyên; đầu tư công và xây dựng chuẩn quốc gia; các chương trình, dự án): từ 75 - 80%; Các nguồn kinh phí huy động xã hội hóa, huy động hợp pháp khác 20- 25%.

Đánh giá tác động của Đề án

Về chính trị: Đề án tiếp tục cụ thể hóa và triển khai hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Kết luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư; Đồng thời, cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định, làm sâu sắc thêm quan điểm của Đảng coi Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của phát triển bền vững. Đề án góp phần chuyển biến nhận thức, tư duy của cấp ủy, chính quyền, tổ chức xã hội và nhân dân về vai trò, ý nghĩa của giáo dục và đào tạo, từ đó nâng cao trách nhiệm, khát vọng và quyết tâm chính trị trong tổ chức thực hiện.

Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục: Đề án xác định phát triển đội ngũ là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; được bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao về chất lượng. Các chính sách, giải pháp đồng bộ về đào tạo, bồi dưỡng, nâng chuẩn, đãi ngộ và cải thiện đời sống sẽ tạo động lực phấn đấu, khơi dậy tinh thần cống hiến, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh.

Tác động kinh tế - xã hội: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Việc quy hoạch, sắp xếp hợp lý mạng lưới trường lớp sẽ hạn chế dàn trải, giảm lãng phí ngân sách, tạo điều kiện tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Phát triển các trường chất lượng cao, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục sẽ giảm gánh nặng ngân sách nhà nước. Đề án góp phần phát triển và hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục, trong đó có trường chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, sẽ bảo đảm quyền học tập cho mọi đối tượng, nâng cao dân trí, giảm thất nghiệp, hạn chế tệ nạn xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Quỳnh Trang

Danh sách tin tức - bài viết
Lọc tin tức - bài viết
Chuyên mục:
Sự kiện:
Nội dung:

Thư viện video

Nhịp cầu ngoại giao văn hóa
Bắt nhịp làn sóng đầu tư
Thời sự Phú Thọ tối 25/6/2025: Gặp mặt, chia tay các đồng chí thôi tham gia BCH Đảng bộ tỉnh
Thời sự Phú Thọ tối 1/7/2025 | Ngày đầu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động