1. Chiều 6/2, tại trụ sở Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Chủ tịch CPP Hun Sen và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith đã đồng chủ trì Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam - Campuchia - Lào. Cùng dự cuộc gặp có Thủ tướng ba nước, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam và Chủ tịch Quốc hội Campuchia.

Tổng Bí thư Tô Lâm; Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Techo Hun Sen; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cùng lãnh đạo chủ chốt 3 Đảng tại Cuộc gặp - Ảnh: TTXVN
Tại cuộc gặp, trong không khí hữu nghị, Người đứng đầu ba Đảng khẳng định cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vừa tổ chức thành công Đại hội Đảng, đồng thời CPP đang tích cực triển khai hiệu quả Cương lĩnh chính trị của Đảng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 2023-2028, tạo nền tảng quan trọng để ba Đảng tăng cường trao đổi chiến lược, củng cố vững chắc tin cậy chính trị và thống nhất những định hướng lớn cho hợp tác giữa ba Đảng, ba nước trong giai đoạn phát triển mới.
Phát biểu tại cuộc gặp, Tổng Bí thư Tô Lâm vui mừng chia sẻ về tình hình Việt Nam và những kết quả quan trọng, mang tính định hướng chiến lược của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhấn mạnh Đại hội XIV xác định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, quan hệ truyền thống đặc biệt với Lào và Campuchia, chủ động, tích cực đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và thế giới. Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam nhất quán coi trọng và ưu tiên củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia - Lào.
Chủ tịch CPP Hun Sen và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Thongloun Sisoulith cảm ơn Tổng Bí thư Tô Lâm đã thông báo về thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội; đặc biệt là thành công của Đại hội XIV; đánh giá cao đường lối đổi mới toàn diện, tư duy chiến lược và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới; tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam sẽ đạt được nhiều thắng lợi trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, tiến tới đạt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Cùng nhìn lại một năm qua, ba Nhà Lãnh đạo nhất trí cho rằng hợp tác ba nước đã đạt được nhiều thành tựu tích cực, ngày càng củng cố và phát triển. Quan hệ chính trị - đối ngoại tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, định hướng tổng thể cho hợp tác ba nước. Hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục đóng vai trò trụ cột quan trọng, được triển khai ngày càng thực chất, hiệu quả. Ba nước đã tổ chức thành công Cuộc gặp thường niên giữa ba Bộ trưởng Quốc phòng và Diễn tập chung về cứu hộ, cứu nạn tại Lào. Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư chuyển biến tích cực, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 8,02%; Campuchia ước đạt 6,3%; Lào ước đạt 4,2%. Giao lưu nhân dân, hợp tác địa phương và công tác tuyên truyền về quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa ba nước được tăng cường. Ba nước tổ chức thành công Liên hoan thanh niên ba nước năm 2025 tại tỉnh Quảng Ngãi.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, đánh giá các tác động đan xen của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những khó khăn kinh tế và các thách thức an ninh phi truyền thống, ba Người đứng đầu ba Đảng thống nhất tiếp tục tăng cường đoàn kết, duy trì tham vấn thường xuyên và phối hợp chặt chẽ, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi nước, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để tập trung phát triển.
Trên cơ sở đó, ba Nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục duy trì thường xuyên cơ chế cuộc gặp người đứng đầu ba Đảng, ba Chính phủ, ba Quốc hội, ba Bộ trưởng Quốc phòng, ba Bộ trưởng Công an, ba Bộ trưởng Ngoại giao và nhiều cơ chế ba bên khác; giữ vững nguyên tắc không cho phép bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này gây phương hại đến an ninh mỗi nước; phối hợp tốt trong quản lý, bảo vệ biên giới ba nước đẩy mạnh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia trong đó có tội phạm ma túy, tội phạm buôn bán người, tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Về kinh tế-thương mại-đầu tư, ba bên nhất trí tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa liên kết kinh tế theo hướng thực chất, hiệu quả, bền vững, tạo đột phá trong gắn kết chặt chẽ về kinh tế, cơ sở hạ tầng và tham gia các chuỗi cung ứng, trên tinh thần khai thác các thế mạnh có thể bổ sung cho nhau giữa ba nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực thể chế, tài chính, hạ tầng giao thông - vận tải, logistics, năng lượng, viễn thông và du lịch, xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ; triển khai hiệu quả các hiệp định, thoả thuận hợp tác đã ký, đồng thời cải thiện các chính sách, tạo điều kiện cho phát triển thương mại, nhất là thương mại khu vực biên giới; tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa ba nước; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và ủng hộ các doanh nghiệp ba nước mở rộng đầu tư trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp, công nghệ cao, chế biến, phát triển xanh, kinh tế số, du lịch và các lĩnh vực khác.
Nhằm hỗ trợ nhau nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt đòi hỏi cho giai đoạn phát triển mới, ba Người đứng đầu ba Đảng khẳng định tiếp tục đẩy mạnh gắn kết giáo dục và đào tạo theo hướng lâu dài, coi giáo dục - đào tạo là cầu nối gắn kết thế hệ trẻ, vun đắp hiểu biết, tin cậy và tình cảm hữu nghị bền chặt giữa thế hệ trẻ hai nước, ba nước; tạo điều kiện thuận lợi tối đa, bao gồm cả việc đổi mới chương trình học bổng chính phủ, cấp học bổng, miễn giảm học phí cho sinh viên của hai nước còn lại đến học tập tại nước mình, coi đây là một biện pháp quan trọng để gắn kết giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giữa ba nước; tăng cường liên kết, mở rộng trao đổi, giao lưu giảng viên, sinh viên giữa các trường đại học hàng đầu hai nước, ba nước; phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của mỗi nước.
Ba người đứng đầu ba Đảng nhất trí đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động giao lưu, hợp tác thiết thực, hiệu quả; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ba nước về truyền thống đoàn kết, hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa ba nước; tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của các tổ chức quần chúng, Hội Hữu nghị và các địa phương biên giới giữa ba nước.
Tại cuộc họp, ba bên đã trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm. Cuộc gặp ba Đảng đã đạt được kết quả hết sức tốt đẹp, trao đổi tất cả các lĩnh vực trong ba Đảng, ba nước và một lần nữa khẳng định quan hệ ba đảng, ba nước và nhân dân ba nước có ý nghĩa chiến lược, lâu dài. Kết thúc cuộc gặp, ba Nhà Lãnh đạo đã nhất trí tổ chức Cuộc gặp giữa người đứng đầu ba Đảng lần thứ 5 năm 2027 tại Lào.
2. Nhân dịp tham dự Cuộc gặp giữa Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta với Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) và Cuộc gặp giữa Người đứng đầu ba Đảng Việt Nam - Campuchia - Lào, ngày 06/02, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có cuộc hội kiến với Thủ tướng Campuchia Hun Manet nhằm đánh giá kết quả hợp tác đạt được thời gian qua đồng thời trao đổi các biện pháp thúc đẩy quan hệ song phương thời gian tới.
Trong không khí hữu nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chúc mừng Chính phủ Campuchia do Thủ tướng Hun Manet lãnh đạo đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; tin tưởng Campuchia tiếp tục giành được nhiều thành tựu to lớn trong thời gian tới.
Thủ tướng Hun Manet chúc mừng Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp, nhấn mạnh thành công của Đại hội là minh chứng sinh động cho sự đoàn kết, thống nhất cao của toàn Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin vững chắc của nhân dân Việt Nam đối với đường lối lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời bày tỏ tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam sẽ đạt tăng trưởng hai con số, hoàn thành mục tiêu trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Hai Thủ tướng cùng nhận định rằng trong một năm qua Chính phủ hai nước đã thực hiện hiệu quả Kết luận của Cuộc gặp hai Đảng, ba Đảng (02/2025), phối hợp triển khai các kế hoạch hợp tác với tinh thần chủ động, quyết liệt, hiệu quả và đã đạt được nhiều kết quả thực chất. Quan hệ chính trị - đối ngoại không ngừng được củng cố và tăng cường. Các cơ chế hợp tác song phương tiếp tục phát huy hiệu quả. Hợp tác quốc phòng - an ninh ngày càng thực chất. Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư tăng trưởng mạnh mẽ với kim ngạch thương mại hai nước đạt 11,33 tỷ USD trong năm 2025, tăng 11,7% so với năm 2024. Hợp tác biên giới lãnh thổ đạt nhiều tiến triển đáng ghi nhận, thể hiện thiện chí và quyết tâm của hai bên trong việc xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển. Hợp tác giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân được quan tâm, thúc đẩy.
Hai bên tái khẳng định quyết tâm tiếp tục gìn giữ, vun đắp và không ngừng phát huy quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và đoàn kết gắn bó giữa Việt Nam và Campuchia, coi đây là tài sản quý báu của hai dân tộc, đồng thời cam kết truyền tiếp và phát triển mối quan hệ tốt đẹp này cho các thế hệ mai sau, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước cũng như vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị phía Campuchia tiếp tục quan tâm giải quyết vấn đề địa vị pháp lý để người gốc Việt tại Campuchia ổn định cuộc sống, đóng góp tích cực cho sự phát triển thịnh vượng của Campuchia và quan hệ hữu nghị hai nước.
3. Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2026/NĐ-CP ngày 5/2/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai.
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 Nghị định sau: Nghị định 66/2021/NĐ-CP ngày 6/7/2021; Nghị định 78/2021/NĐ-CP ngày 01/8/2021; Nghị định 9/2025/NĐ-CP ngày 10/01/2025; Nghị định 113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/200; Nghị định 04/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011; Nghị định 53/2019/NĐ-CP ngày 17/6/2019; Nghị định 50/2020/NĐ-CP ngày 20/4/2020 tập trung vào 05 nhóm nội dung: (1) Nhóm nội dung về xử lý các vấn đề liên quan đến Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; (2) Nhóm nội dung về phân định thẩm quyền liên quan đến chính quyền 02 cấp; (3) Nhóm nội dung về phân cấp, phân quyền theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; (4) Nhóm nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; (5) Nhóm nội dung về những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn.
*Quy định mới về phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó rủi ro thiên tai
Trong đó, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 7, 8, 9 Nghị định 66/2021/NĐ-CP về phân công, phân cấp trách nhiệm và phối hợp trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 1, 2, 3 theo hướng điều chỉnh cho phù hợp với chính quyền 02 cấp và chuyển thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.
Theo quy định mới, trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm trực tiếp chỉ huy, huy động nguồn lực tại chỗ để ứng phó kịp thời ngay khi thiên tai xảy ra; hỗ trợ công tác ứng phó khi có đề nghị của các địa phương lân cận; có trách nhiệm trực tiếp chỉ huy và huy động nguồn lực theo thẩm quyền, đảm bảo nguyên tắc minh bạch, đúng quy định của pháp luật để ứng phó thiên tai khi nhận được đề nghị trợ giúp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã khác và chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; báo cáo và chịu trách nhiệm thực hiện chỉ đạo, chỉ huy của các cơ quan phòng, chống thiên tai cấp trên; đồng thời được quyền huy động các nguồn lực sau để ứng phó thiên tai:
Lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã;
Lực lượng công an, dân quân tự vệ, dân phòng, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, thanh niên, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn và các tổ chức, cá nhân tình nguyện theo quy định của pháp luật; đề nghị người có thẩm quyền huy động lực lượng quân đội trên địa bàn để ứng phó thiên tai theo quy định của pháp luật;
Vật tư dự trữ do nhân dân chuẩn bị; vật tư, trang thiết bị, phương tiện của cấp xã và các tổ chức, cá nhân hoạt động trên địa bàn.
Trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ quy định trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 1; tuân thủ sự chỉ huy của cơ quan cấp trên; hướng dẫn và tổ chức sơ tán người đến nơi an toàn; quyết định tổ chức cưỡng chế sơ tán trường hợp tổ chức, cá nhân không tự giác chấp hành chỉ đạo, chỉ huy, hướng dẫn sơ tán phòng, tránh thiên tai vì mục đích an toàn cho người.
Trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định trong ứng phó rủi ro thiên tai cấp độ 2 ở trên phù hợp với tình huống cụ thể tại địa phương; tuân thủ sự chỉ đạo, chỉ huy của cơ quan cấp trên.
*Quy định mới về tình huống khẩn cấp về thiên tai
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 12 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP quy định về tình huống khẩn cấp về thiên tai như sau: Tình huống khẩn cấp về thiên tai là các tình huống thiên tai đã hoặc đang xảy ra đã gây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ đe dọa trực tiếp đến an toàn tính mạng, sức khỏe, nhà ở của nhiều người dân và các công trình đê điều, hồ đập, công trình phòng, chống thiên tai, công trình hạ tầng quan trọng đang sử dụng như sân bay, đường sắt, đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường độc đạo liên xã, liên thôn, bến cảng quốc gia, hệ thống lưới cao thế từ 66KV trở lên, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế giới, trường học, bệnh viện, trụ sở các cơ quan, các khu kinh tế, khu công nghiệp; mất đất, mất rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn, cần tổ chức triển khai ngay các biện pháp ứng phó khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn hậu quả và khắc phục nhanh hậu quả, được công bố bằng quyết định của người có thẩm quyền.
Đồng thời, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP về dự án khẩn cấp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo hướng sửa đổi, cập nhật nội dung quy định về hình thức chỉ định thầu để thực hiện dự án khẩn cấp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai để phù hợp với quy định về đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp đã được quy định cụ thể trong Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và các Nghị định hướng dẫn.
Theo quy định mới, dự án khẩn cấp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai được quyết định đầu tư, tổ chức thực hiện theo quy định tại khoản 15 Điều 4, khoản 6 Điều 19, Điều 45 Luật Đầu tư công, Điều 130 Luật Xây dựng được sửa đổi, bổ sung tại khoản 48 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng; được áp dụng hình thức chỉ định thầu để lựa chọn nhà thầu theo quy định tại Điều 23 Luật Đấu thầu được sửa đổi, bổ sung tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 90/2025/QH15 và điểm b, điểm k khoản 1 Điều 78 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và được điều chỉnh tương ứng khi pháp luật về đầu tư công, xây dựng và đấu thầu điều chỉnh.
*Phân cấp, phân quyền mới về hỗ trợ khẩn cấp di dời dân cư
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 4 của Điều 19 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP về hỗ trợ khẩn cấp di dời dân cư theo hướng thay thế cụm từ "Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn" bằng "Ban chỉ huy phòng thủ dân sự"; gộp thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã cho phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp. Như vậy, trong hỗ trợ khẩn cấp di dời dân cư, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã huy động lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai và các lực lượng tại chỗ rà soát, xác định số hộ cần di dời khẩn cấp.
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp xã tổng hợp về số hộ cần di dời khẩn cấp và nhu cầu hỗ trợ di dời, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Căn cứ quy định của Luật Đất đai, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và các quy định pháp luật hiện hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao đất, bố trí chỗ ở cho các hộ dân cần di dời; quyết định huy động kinh phí, lực lượng, trang thiết bị, vật tư và các tổ chức, cá nhân liên quan theo thẩm quyền để triển khai thực hiện. Trường hợp vượt quá khả năng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề xuất Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh.
Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh tổng hợp nhu cầu cấp xã, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Căn cứ quy định của Luật Đất đai, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và các quy định pháp luật hiện hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí quỹ đất để làm nơi ở cho các hộ dân cần di dời; quyết định huy động kinh phí, lực lượng, trang thiết bị, vật tư và các tổ chức, cá nhân liên quan theo thẩm quyền để hỗ trợ di dời. Trường hợp vượt quá khả năng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ để kịp thời xử lý.
*Thay đổi về chế độ tiền lương, tiền thưởng
Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 33, 35 Nghị định số 66/2021/NĐ-CP theo hướng điều chỉnh tiền lương và mức theo định mức quy định tại Nghị định 16/2025/NĐ-CP ngày 04/02/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ. Cụ thể:
Về chế độ tiền lương, tiền công đối với người tham gia lực lượng xung kích được huy động tập huấn, huấn luyện, diễn tập và làm nhiệm vụ phòng chống thiên tai, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP quy định mới như sau: Người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong thời gian được huy động làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tham gia tập huấn, huấn luyện, diễn tập được hưởng trợ cấp ngày công lao động như sau:
a) Mức trợ cấp ngày công lao động do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, nhưng không thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ.
Nếu huấn luyện, diễn tập và làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai vào ban đêm (từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau) được tính tăng thêm không thấp hơn 50% mức trợ cấp ngày công lao động hiện hưởng.
b) Khi tập huấn, huấn luyện, diễn tập, làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày thì được bố trí nơi ăn, nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi và về như cán bộ, công chức cấp xã; được hỗ trợ tiền ăn theo mức do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng không thấp hơn mức tiền ăn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ.
c) Cấp nào huy động thì cấp đó bảo đảm chi trả.
Về mức hưởng cho người tham gia lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã không tham gia bảo hiểm xã hội nếu bị tai nạn, bị chết, Nghị định số 53/2026/NĐ-CP sửa đổi như sau:
Trường hợp bị tai nạn: Trong thời gian điều trị tai nạn được hưởng như quy định tại khoản 2 Điều này kể cả trường hợp vết thương tái phát cho đến khi xuất viện. Trường hợp tai nạn làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 15 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ.
Trường hợp bị tai nạn dẫn đến chết: Thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ.
Trường hợp bị ốm đau dẫn đến chết: Thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 15 Nghị định số 72/2020/NĐ-CР ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4 tháng 2 năm 2025 của Chính phủ.
GN (Tổng hợp)