Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Đảng xác định là phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Việc thực hiện “4 kiên định” mà Đảng ta xác định thực chất là kiên trì bám sát, nắm vững và thực hiện bằng được các nguyên tắc mang tính rường cột, cốt lõi để giữ vững, tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, củng cố, gắn kết chặt chẽ sự thống nhất ý chí và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, qua đó khơi dậy, phát huy sức mạnh tổng hợp trong toàn Đảng. Bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đặt ra ngày càng cao đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là việc giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định nền tảng tư tưởng và định hướng phát triển. Trong bối cảnh đó, việc toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, nhất quán “bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa là yêu cầu cấp thiết trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài.
“Bốn kiên định” không chỉ là những nguyên tắc lý luận, mà còn là kim chỉ nam hành động, bảo đảm cho Đảng ta luôn vững vàng trước mọi biến động, giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Nguyên tắc đầu tiên và có ý nghĩa nền tảng là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở lý luận để Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng, khoa học, đồng thời là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, chính việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước đã giúp Đảng ta lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại: từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân, đế quốc đến công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh TTXVN
Tuy nhiên, kiên định không có nghĩa là bảo thủ, giáo điều. Ngược lại, yêu cầu đặt ra là phải không ngừng vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, nếu không đổi mới tư duy lý luận, không cập nhật nhận thức thì sẽ không thể dẫn dắt thực tiễn. Do đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nâng cao trình độ lý luận chính trị, tăng cường nghiên cứu, học tập, nắm vững những nguyên lý cơ bản, đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải trở thành việc làm thường xuyên, tự giác, gắn với chức trách, nhiệm vụ cụ thể.
Đồng thời, cần chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện bùng nổ thông tin, không gian mạng phát triển mạnh mẽ, nếu không giữ vững trận địa tư tưởng, sẽ rất dễ bị tác động, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nguyên tắc thứ hai, mang tính xuyên suốt, thể hiện rõ bản chất và lý tưởng của Đảng. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không chỉ là sự lựa chọn mang tính lịch sử, mà còn là con đường duy nhất đúng đắn phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đây chính là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng, là mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã kiên trì lựa chọn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa càng trở nên quan trọng. Một số quan điểm sai trái, thù địch tìm cách phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng đắn, không dao động trước những luận điệu xuyên tạc. Kiên định mục tiêu này cũng đồng nghĩa với việc kiên trì xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nơi con người được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế, mà còn là mục tiêu chính trị, xã hội, văn hóa mang tính toàn diện.
Trong mọi hoàn cảnh, càng khó khăn, thách thức, càng phải giữ vững niềm tin, ý chí và quyết tâm đối với con đường đã lựa chọn. Lịch sử đã chứng minh, chính sự kiên định này là yếu tố quyết định giúp cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, tiến lên giành thắng lợi.
Kiên định đường lối đổi mới của Đảng– Động lực phát triển đất nước
Nguyên tắc thứ ba là kiên định đường lối đổi mới của Đảng, là động lực quan trọng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng sức sản xuất và nâng cao vị thế đất nước. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Kiên định đường lối đổi mới của Đảng là tiếp thêm động lực sức mạnh cho đất nước Việt Nam bứt phá, vươn lên trong kỷ nguyên mới. Bởi thế và lực của đất nước ta sau 4 thập kỷ không ngừng được củng cố, bồi đắp, tăng cường đã chứng tỏ đường lối đổi mới do Đảng ta lãnh đạo là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với quy luật khách quan, xu hướng phát triển của thời đại và đáp ứng ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Đổi mới phải đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; giữa phát triển và bảo vệ môi trường; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Đồng thời, đổi mới phải hướng tới khơi thông mọi nguồn lực, tạo động lực cho phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Cần khắc phục tâm lý e ngại, sợ sai, không dám đổi mới.
Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng – Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện
Nguyên tắc thứ tư là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đây là yếu tố bảo đảm cho Đảng giữ vững sự thống nhất về ý chí và hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện. Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng không chỉ mang ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay, mà còn là nền tảng, điều kiện bảo đảm để Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững những giá trị cốt lõi làm nên bản chất cách mạng của một đảng mác xít chân chính. Các nguyên tắc cơ bản như tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gắn bó mật thiết với nhân dân; đoàn kết, thống nhất; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật… chính là “kim chỉ nam” định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng.
Trong thực tế, một số nơi còn tình trạng vi phạm nguyên tắc, kỷ luật chưa nghiêm, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Vì vậy, việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm các vi phạm là yêu cầu cấp thiết. Kiên định nguyên tắc tổ chức của Đảng cũng gắn liền với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng.
Để “bốn kiên định” thực sự đi vào cuộc sống, yếu tố quyết định chính là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, gương mẫu trong nhận thức và hành động, là “hạt nhân” lan tỏa tinh thần kiên định trong toàn xã hội.
Trước hết, cần nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu, nắm chắc nội dung “bốn kiên định”. Việc học tập nghị quyết phải đi vào thực chất, tránh hình thức, qua loa. Tiếp đó, cần gắn việc thực hiện “bốn kiên định” với nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tự soi, tự sửa, nâng cao ý thức trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, chính trị. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Việc Đảng ban hành Quy định về Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng chính là sự cụ thể hóa "Bốn kiên định" nêu trên là cần thiết.
“Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng là nền tảng vững chắc để Đảng ta giữ vững bản lĩnh, phát huy vai trò lãnh đạo, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh mới, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc, nhất quán “bốn kiên định” càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần và thực hiện tốt, Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giang Nam