Từ những chuyến xe buýt phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày, những lớp học tiếng Việt dành cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp Một đến việc bảo đảm thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, 3 nghị quyết được HĐND tỉnh Phú Thọ ban hành ngày 8/5/2026 đã cho thấy rõ định hướng phát triển lấy con người làm trung tâm. Mỗi chính sách giải quyết một vấn đề cụ thể của đời sống, nhưng cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân, củng cố nền tảng an sinh xã hội và tạo động lực cho phát triển bền vững.
Sự phát triển của một địa phương không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế hay quy mô đầu tư mà còn thể hiện ở mức độ thụ hưởng của người dân đối với các chính sách công. Khi những nhu cầu thiết thực nhất của cuộc sống được quan tâm giải quyết, khi các nhóm đối tượng yếu thế được tạo điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển và khi những người đã cống hiến cho đất nước được chăm lo đầy đủ hơn, đó chính là thước đo sinh động nhất của hiệu quả quản trị.

Ba nghị quyết được HĐND tỉnh Phú Thọ ban hành ngày 8/5/2026, gồm Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND về hỗ trợ hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt; Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND về hỗ trợ dạy và học tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp Một; Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND về quy định tỷ lệ chi phí quản lý thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã phản ánh rõ tinh thần đó.
Từ những chuyến xe buýt kết nối cơ hội phát triển
Trong đời sống hiện đại, giao thông công cộng không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là cầu nối giữa người dân với các cơ hội học tập, việc làm, chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế.
Nhận thức rõ vai trò đó, Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND đã quy định nhiều chính sách hỗ trợ nhằm duy trì và phát triển hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh. Các chính sách bao gồm hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư phương tiện, đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ xe buýt, hỗ trợ kinh phí hoạt động và thực hiện chính sách miễn, giảm giá vé cho hành khách.
Đáng chú ý, các dự án đầu tư xe buýt sử dụng điện hoặc năng lượng xanh được hỗ trợ tới 70% mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước trong thời gian tối đa 5 năm. Các dự án đầu tư xe buýt sử dụng nhiên liệu truyền thống và các công trình hạ tầng phục vụ vận tải công cộng được hỗ trợ 50% lãi suất trong cùng thời gian.
Song song với đó, các đơn vị vận tải được hỗ trợ kinh phí hoạt động tương đương 30% doanh thu bán vé. Chính sách này giúp giảm áp lực tài chính, tạo điều kiện duy trì các tuyến xe buýt phục vụ người dân, nhất là những tuyến có ý nghĩa dân sinh nhưng hiệu quả kinh doanh chưa cao.
Không dừng lại ở việc hỗ trợ doanh nghiệp, nghị quyết còn dành sự quan tâm trực tiếp tới người dân thông qua chính sách miễn, giảm giá vé cho nhiều đối tượng. Trẻ em dưới 6 tuổi, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng được miễn hoàn toàn giá vé. Người cao tuổi, học sinh, sinh viên và người khuyết tật được giảm 50% giá vé.
Đằng sau những chính sách hỗ trợ đó là mục tiêu xây dựng một hệ thống giao thông công cộng thuận tiện, văn minh và thân thiện với môi trường, qua đó giúp người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội dễ dàng hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mở rộng cánh cửa tri thức cho trẻ em dân tộc thiểu số
Nếu giao thông giúp rút ngắn khoảng cách địa lý thì giáo dục chính là con đường thu hẹp khoảng cách phát triển.
Trong những năm qua, việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số luôn được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bởi lẽ, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là chìa khóa để tiếp cận tri thức.
Đối với nhiều trẻ em dân tộc thiểu số, những ngày đầu bước vào lớp Một thường gặp không ít khó khăn do hạn chế về vốn tiếng Việt. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu bài học, giao tiếp với thầy cô, bạn bè và quá trình hòa nhập với môi trường học tập mới.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND đã quy định kinh phí hỗ trợ thực hiện dạy và học tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp Một trên địa bàn tỉnh. Theo nghị quyết, chương trình được tổ chức tối đa một tháng trong dịp hè với thời lượng không quá 80 tiết học; giáo viên trực tiếp giảng dạy được hỗ trợ 110 nghìn đồng mỗi tiết; mỗi trẻ em tham gia học được hỗ trợ 350 nghìn đồng để mua tài liệu, đồ dùng học tập.
Giá trị của chính sách không chỉ nằm ở mức hỗ trợ kinh phí mà còn ở ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của trẻ em. Khi được trang bị tốt hơn về ngôn ngữ trước khi bước vào môi trường học tập chính thức, các em sẽ có thêm sự tự tin, giảm bớt những rào cản ban đầu và có nhiều cơ hội phát triển hơn trong tương lai.
Đó cũng là cách để bảo đảm công bằng trong giáo dục, giúp mọi trẻ em, dù sinh sống ở đâu, thuộc dân tộc nào, đều có cơ hội khởi đầu thuận lợi trên con đường học tập.
Gìn giữ đạo lý bằng những chính sách thiết thực
Một xã hội phát triển không chỉ quan tâm tới tương lai mà còn luôn trân trọng những cống hiến của các thế hệ đi trước.
Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐND quy định tỷ lệ chi phí quản lý để thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng và người trực tiếp tham gia kháng chiến tiếp tục khẳng định sự quan tâm của tỉnh đối với công tác đền ơn đáp nghĩa.
Nhìn bề ngoài, đây là một nghị quyết mang tính kỹ thuật trong quản lý ngân sách. Tuy nhiên, ý nghĩa sâu xa hơn là tạo cơ sở để các chính sách ưu đãi người có công được triển khai đồng bộ, hiệu quả và minh bạch. Khi cơ chế quản lý được hoàn thiện, việc thực hiện các chế độ ưu đãi sẽ thuận lợi hơn, bảo đảm quyền lợi của người thụ hưởng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước.
Mỗi chế độ được thực hiện đúng đối tượng, mỗi quyền lợi được bảo đảm đầy đủ không chỉ là việc thực hiện quy định của pháp luật mà còn là sự tri ân đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đó cũng là cách để truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.
Nhìn từ ba nghị quyết được ban hành trong cùng một thời điểm có thể thấy rõ một điểm chung xuyên suốt trong tư duy hoạch định chính sách của tỉnh: mọi quyết sách cuối cùng đều hướng tới phục vụ con người.
Từ việc tạo thuận lợi cho người dân trong đi lại, mở rộng cơ hội học tập cho trẻ em dân tộc thiểu số đến chăm lo tốt hơn cho người có công với cách mạng, mỗi chính sách đều góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Khi những chủ trương đúng đắn được cụ thể hóa bằng các chính sách sát thực tiễn, người dân sẽ ngày càng được thụ hưởng nhiều hơn thành quả phát triển. Và khi mỗi người dân đều cảm nhận được sự quan tâm từ những chính sách gần gũi với cuộc sống hằng ngày, đó cũng chính là lúc mục tiêu phát triển vì con người được hiện thực hóa trên quê hương Đất Tổ.
Tiến Đức