Phát triển kinh tế số và xã hội số: Động lực chiến lược thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên số

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao trong những thập niên tới. Trong tiến trình đó, kinh tế số và xã hội số không còn là lựa chọn, mà đã trở thành con đường tất yếu, là động lực cốt lõi của tăng trưởng và đổi mới mô hình phát triển. Do đó, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 9/6/2026 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 được xem là bản "tổng thiết kế" quan trọng, với mục tiêu đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng chính và xây dựng một xã hội số văn minh, bao trùm.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Định hướng chiến lược: Đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới

Chương trình đặt ra quan điểm phát triển rõ ràng: Phát triển kinh tế số và xã hội số là động lực chiến lược thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên số. Kinh tế số là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Xã hội số phải bảo đảm tính bao trùm, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong kỷ nguyên số.

Chính phủ khẳng định phát triển kinh tế số và xã hội số dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hình thành phương thức sản xuất mới trong đó dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất chính, trí tuệ nhân tạo là công cụ sản xuất chủ yếu, môi trường số là môi trường phát triển an toàn, tin cậy và bảo đảm chủ quyền quốc gia. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua hệ thống thể chế, cơ chế chính sách đồng bộ, hạ tầng số hiện đại, công nghệ chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao; lấy doanh nghiệp và người dân là trung tâm, là chủ thể sáng tạo và là đối tượng thụ hưởng. Đồng thời tăng cường cơ chế giám sát, thực thi pháp luật hiệu quả, minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi người tiêu dùng trong môi trường số.

Đồng thời, phát triển kinh tế số và xã hội số phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, dữ liệu cá nhân và chủ quyền số quốc gia. Tập trung nguồn lực phát triển và từng bước làm chủ các công nghệ số trọng điểm, công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, hạ tầng viễn thông thế hệ mới và các công nghệ số tiên tiến khác.

Phát triển kinh tế số và xã hội số phải được triển khai đồng bộ, toàn diện và rộng khắp trong mọi ngành, lĩnh vực và đời sống xã hội, bảo đảm tính bền vững và lâu dài. Đồng thời, phát triển kinh tế số và xã hội số gắn kết chặt chẽ với chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Phát triển kinh tế số và xã hội số gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Chủ động tiếp thu tri thức, công nghệ nguồn và nguồn lực từ đối tác quốc tế; tham gia tích cực vào các sáng kiến, chuẩn mực và chuỗi giá trị số toàn cầu, từng bước khẳng định vai trò và vị thế của Việt Nam như một trung tâm công nghệ số năng động trong khu vực.

Đích đến 2030: Kinh tế số vững mạnh, Xã hội số văn minh

Chương trình đề ra mục tiêu tổng quát xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững. Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân. Đồng thời, Chương trình thiết lập một hệ thống mục tiêu cụ thể vào năm 2030:

Về kinh tế số: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; Hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; Phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; Tỷ trọng quy mô đào tạo giáo dục đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 40%.

Về xã hội số: Tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận mạng Internet băng rộng cáp quang với tốc độ 1 Gb/s đạt 100%; Mạng băng rộng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100 Mb/s, phủ sóng 99% dân số; 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước, tài khoản định danh điện tử; Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt 95%; Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực số cơ bản cho tối thiểu 10.000.000 lượt người trong độ tuổi lao động.

Hệ giải pháp xoay trục: Xây dựng nền tảng, tạo đà bứt phá

Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, Chương trình triển khai đồng bộ 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, tập trung vào việc tạo lập các yếu tố sản xuất mới và bảo đảm an toàn bền vững cho không gian số:

Đột phá thể chế và kinh tế dữ liệu: Chính phủ tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý, trọng tâm là thể chế về dữ liệu và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình kinh tế mới. Điểm nhấn đặc biệt là việc hình thành thị trường dữ liệu và thí điểm các sàn giao dịch dữ liệu, đồng thời hoàn thiện quy định về luồng dữ liệu xuyên biên giới phù hợp với an ninh mạng. Nhà nước cũng sẽ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp đo lường kinh tế số để phục vụ hoạch định chính sách chính xác hơn.

Hạ tầng số hiện đại và Nền tảng "Make in Vietnam": Hạ tầng số được phát triển theo hướng mạng băng rộng 5G phủ sóng 99% dân số, kết hợp với Internet vệ tinh quỹ đạo thấp. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo đầu tư hạ tầng chiến lược như các trung tâm dữ liệu hiệu năng cao, hạ tầng phục vụ AI và điện toán đám mây theo mô hình dịch vụ. Song song đó, Việt Nam ưu tiên phát triển các nền tảng số dùng chung và hệ sinh thái sản phẩm "Make in Vietnam", khuyến khích các tập đoàn lớn dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Phổ cập AI và Xây dựng niềm tin số: Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ được ứng dụng rộng khắp để tối ưu hóa vận hành trong mọi ngành, lĩnh vực dựa trên các nguyên tắc đạo đức và bảo vệ quyền riêng tư. Để bảo vệ thành quả của kinh tế số, mô hình an ninh mạng nhiều lớp sẽ được triển khai theo nguyên tắc "an toàn từ khâu thiết kế". Ngoài ra, việc phát triển thị trường bảo hiểm an ninh mạng và hệ sinh thái tín nhiệm mạng sẽ giúp xây dựng một môi trường số an toàn, tin cậy cho người dân và doanh nghiệp.

Phát triển nguồn nhân lực và Công dân số toàn diện: Chương trình đặt mục tiêu đào tạo 10 triệu lượt người lao động về năng lực số cơ bản và nâng tỷ lệ sinh viên STEM lên 40%. Các trung tâm đào tạo chuyên sâu về công nghệ bán dẫn và AI sẽ được ưu tiên đầu tư để thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Về phía xã hội, 100% công dân từ 14 tuổi sẽ có tài khoản định danh điện tử qua VNeID, tạo nền tảng để người dân tiếp cận các dịch vụ an sinh, y tế và giáo dục số một cách công bằng và minh bạch.

Hiện đại hóa quản trị và các thị trường mới: Quản trị quốc gia sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang dựa trên dữ liệu thời gian thực. Chương trình cũng thúc đẩy hình thành các thị trường hiện đại như thị trường đổi mới sáng tạo, thị trường tín chỉ carbon và các sàn giao dịch tài sản số. Đặc biệt, nghiên cứu thí điểm tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (CBDC) được xem là bước đi đột phá để hoàn thiện hệ sinh thái tài chính số quốc gia.

Chuyển đổi số toàn diện các ngành kinh tế - xã hội

Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 đề ra lộ trình chuyển đổi số toàn diện và cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực trọng điểm nhằm tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia:

Nông nghiệp: Tập trung xây dựng chuỗi giá trị số "từ đồng ruộng đến bàn ăn" thông qua ứng dụng IoT, cảm biến, tự động hóa và AI để sản xuất chính xác. Phát triển các sàn giao dịch nông sản, hệ thống truy xuất nguồn gốc và dự báo thị trường trên nền tảng dữ liệu dùng chung nhằm hướng tới nông nghiệp xanh và bền vững.

Công nghiệp chế biến, chế tạo: Chuyển đổi các nhà máy truyền thống thành nhà máy thông minh thông qua các nền tảng quản trị sản xuất như ERP, MES, SCADA. Đặc biệt nhấn mạnh vào việc triển khai Internet vạn vật trong công nghiệp (IIoT) và quản trị năng lượng thông minh theo tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị).

Logistics: Tối ưu hóa toàn bộ quy trình từ sản xuất đến người tiêu dùng để hình thành chuỗi cung ứng minh bạch. Thí điểm các mô hình hiện đại như cảng mở và khu thương mại tự do (FTZ), đồng thời đào tạo nhân lực chuyên sâu về vận hành giải pháp logistics số.

Năng lượng: Ưu tiên phát triển lưới điện thông minh, ứng dụng AI trong dự báo phụ tải và tích hợp hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo. Triển khai công tơ điện thông minh và hệ thống quản lý năng lượng phân tán (DERMS) để tối ưu hóa việc tiết kiệm điện.

Thương mại: Lấy thương mại điện tử và tiêu dùng số làm động lực tăng trưởng chính. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tham gia các sàn thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu số và ứng dụng các giải pháp thanh toán số, logistics số đồng bộ.

Tài chính - Ngân hàng: Phổ cập tài chính số đến vùng sâu, vùng xa qua các kênh như Mobile Money và ví điện tử. Nghiên cứu thí điểm tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (CBDC) và triển khai cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình công nghệ tài chính (Fintech) mới.

Du lịch: Nâng cao trải nghiệm du khách thông qua các chương trình du lịch thực tế ảo (VR), du lịch số và cá nhân hóa dịch vụ bằng AI. Phát triển nền tảng dữ liệu số du lịch quốc gia và hình thành các điểm đến thông minh

Y tế: Đẩy mạnh triển khai sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử và đơn thuốc điện tử gắn với định danh cá nhân. Ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi sức khỏe từ xa.

Giáo dục và Đào tạo: Hình thành hệ sinh thái giáo dục số với học liệu mở và phòng thí nghiệm ảo. Đặc biệt, tập trung đầu tư các trung tâm đào tạo chuyên sâu về AI và bán dẫn, đồng thời xây dựng mô hình giáo dục đại học số có khả năng công nhận kết quả học tập quốc tế.

Văn hóa, Thể thao: Số hóa các di sản, di tích và tác phẩm nghệ thuật để phát triển công nghiệp văn hóa trên môi trường số. Sử dụng công nghệ 3D/VR trong sáng tạo và trải nghiệm, đồng thời bảo vệ nghiêm ngặt bản quyền và sở hữu trí tuệ số.

An sinh và Bảo hiểm xã hội: Chuyển từ quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu. 100% đối tượng thụ hưởng an sinh được định danh điện tử và đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt, giúp chính sách thực hiện kịp thời, minh bạch.

Tài nguyên và Môi trường: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; triển khai nền tảng giám sát môi trường tích hợp IoT và vệ tinh tầm thấp để cảnh báo thiên tai, ô nhiễm. Phát triển thị trường tín chỉ carbon và hệ thống kiểm kê khí nhà kính số.

Xây dựng và Giao thông: Số hóa toàn bộ vòng đời công trình qua mô hình BIM (Building Information Modeling) và phát triển các bản sao số (Digital Twins) cho đô thị. Phổ cập giao thông thông minh và thu phí không dừng (ETC) tại các đô thị lớn.

Lao động và Việc làm: Phát triển thị trường lao động số với các sàn giao dịch việc làm trực tuyến và hợp đồng lao động điện tử, kết nối trực tiếp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư...

Với Quyết định 1033/QĐ-TTg, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc nắm bắt thời cơ của kỷ nguyên số. Chương trình 2026 - 2030 không chỉ là một kế hoạch kinh tế, mà còn là một cuộc cách mạng về phương thức sản xuất và lối sống, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành một trung tâm công nghệ số năng động trong khu vực và quốc tế.

Ngọc An

Danh sách tin tức - bài viết
Lọc tin tức - bài viết
Chuyên mục:
Sự kiện:
Nội dung:

Thư viện video

Nhịp cầu ngoại giao văn hóa
Bắt nhịp làn sóng đầu tư
Thời sự Phú Thọ tối 25/6/2025: Gặp mặt, chia tay các đồng chí thôi tham gia BCH Đảng bộ tỉnh
Thời sự Phú Thọ tối 1/7/2025 | Ngày đầu mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động