Văn hóa đối ngoại là bộ phận đặc biệt quan trọng của nền văn hóa quốc gia, thể hiện nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia, có vai trò to lớn trong công cuộc hội nhập quốc tế, củng cố môi trường hòa bình, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Văn hóa đối ngoại Việt Nam được định hình bởi các giá trị hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững, phản ánh nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, dựa trên hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Xuất phát từ quan điểm phát triển văn hóa đối ngoại là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Phát triển văn hóa đối ngoại dựa trên cơ sở phát triển văn hóa trong nước, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng, phát triển toàn diện văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1306/QĐ-TTg ngày 17/7/2026 phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là lộ trình quan trọng nhằm khẳng định vị thế của Việt Nam và thúc đẩy sự hội nhập về văn hóa trên trường quốc tế.
Nâng tầm vị thế quốc gia qua "Sức mạnh mềm"
Chiến lược xác định mục tiêu tổng quát là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa để quảng bá sâu rộng các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trở thành sức mạnh mềm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, nâng cao vị thế, uy tín và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp xứng đáng vào sự đa dạng của nền văn minh nhân loại.
Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 - 2030
Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa với các quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức, cơ quan văn hóa, các tập đoàn kinh tế, công nghiệp văn hóa trong khu vực và trên thế giới, tạo xung lực phát triển mới cho các lĩnh vực văn hóa, công nghiệp văn hóa, tập trung vào những lĩnh vực thế mạnh (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, di sản...).
Trong đó, Chiến lược đề ra các chỉ tiêu cụ thể, bao gồm: Phấn đấu đạt ít nhất 05 giải thưởng quốc tế uy tín trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật (trọng tâm là âm nhạc, điện ảnh, văn học); hình thành và vận hành ổn định 05 Liên hoan nghệ thuật quốc tế mang thương hiệu đặc trưng của các địa phương trọng điểm, trở thành điểm đến văn hóa tiêu biểu của khu vực; có thêm ít nhất 05 di sản/danh hiệu được các tổ chức quốc tế (UNESCO và các tổ chức chuyên ngành khác) công nhận/ghi danh; phấn đấu xây dựng ít nhất 10 điểm đến du lịch văn hóa - di sản thành thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh toàn cầu, có tính nhận diện trên trường quốc tế; thiết lập mới từ 01 đến 03 Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tại các địa bàn chiến lược.
Tầm nhìn đến năm 2045
Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực; phát triển bứt phá sức mạnh mềm văn hóa dựa trên nền tảng kinh tế số và xã hội số vững chắc; khẳng định vị thế quốc gia có bề dày văn hiến, năng lực và uy tín trong điều hành, tổ chức các sự kiện khu vực và quốc tế, chủ động tham gia định hình xu thế phát triển văn hóa thế giới trong kỷ nguyên mới.
Trong đó, Chiến lược đề ra các chỉ tiêu cụ thể, bao gồm: Giành thêm ít nhất 15 giải thưởng quốc tế uy tín trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, công nghiệp văn hóa; đăng cai và tổ chức thành công ít nhất 01 sự kiện quy mô toàn cầu (như World EXPO, EXPO chuyên đề, các sự kiện thể thao/văn hóa tầm cỡ thế giới); tiếp tục thành lập các Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tại các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện theo yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước thêm ít nhất 05 trung tâm; có thêm 15 di sản, danh hiệu được các tổ chức quốc tế (UNESCO và các tổ chức chuyên ngành khác) công nhận/ghi danh; phấn đấu đưa Việt Nam vào Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia.
06 đột phá trong giải pháp và hành động
Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra các nhóm nhiệm vụ và giải pháp mang tính đột phá: (1) Hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đột phá về văn hóa đối ngoại; (2) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm công tác văn hóa đối ngoại ở trong và ngoài nước; (3) Đổi mới tư duy, nâng tầm hoạt động, đa dạng hóa phương thức quảng bá và truyền thông thương hiệu văn hóa quốc gia trên toàn cầu; (4) Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển văn hóa số, đẩy mạnh quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài; (5) Hội tụ tinh hoa văn hóa nhân loại, kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo quốc tế tại Việt Nam; (6) Phát huy vai trò cộng đồng người Việt Nam và mạng lưới thiết chế văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế yêu mến văn hóa Việt Nam trong quảng bá văn hóa Việt Nam.
Trong đó, nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng hệ thống hành lang pháp lý đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm văn hóa phát triển. Trọng tâm là xây dựng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng để khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm “Made in Viet Nam”, đặc biệt là văn hóa số. Đồng thời, Nhà nước sẽ tăng cường bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý tại thị trường quốc tế để bảo vệ nguồn lực sáng tạo quốc gia.
Chiến lược tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu sâu sắc bản sắc dân tộc và có kỹ năng đàm phán quốc tế. Đáng chú ý, Việt Nam sẽ triển khai đội ngũ Tham tán văn hóa/Tùy viên văn hóa tại các địa bàn các nước đối tác chiến lược. Bên cạnh đó, việc vinh danh danh hiệu "Đại sứ văn hóa Việt Nam" cho các cá nhân có tầm ảnh hưởng sẽ tạo ra mạng lưới quảng bá hình ảnh đất nước một cách sống động và hiệu quả.
Thay vì các hoạt động đơn lẻ, Chiến lược hướng tới sự chuyên nghiệp trong việc tổ chức các "Tuần văn hóa", "Ngày văn hóa" Việt Nam tại nước ngoài. Các biểu tượng đặc trưng như Áo dài, ẩm thực, võ thuật và nghệ thuật truyền thống sẽ được kết nối với mạng lưới nhà hàng, du lịch để tạo hiệu ứng cộng hưởng. Việt Nam cũng đặt mục tiêu hiện diện mạnh mẽ hơn tại các sự kiện văn hóa, thể thao và điện ảnh uy tín trên toàn cầu.
Chuyển đổi số được xác định là công cụ đột phá để đưa văn hóa Việt vượt qua ranh giới địa lý. Nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa tích hợp đa ngôn ngữ và ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ AI, VR (thực tế ảo), AR (thực tế tăng cường). Điều này cho phép công chúng thế giới trải nghiệm các triển lãm thực tế ảo, tham quan di sản số của Việt Nam một cách chân thực và dễ dàng
Việt Nam chủ động đăng cai các liên hoan âm nhạc, điện ảnh, triển lãm và các sự kiện quy mô khu vực và thế giới. Việc phát huy vai trò của các Thành phố sáng tạo UNESCO sẽ tạo ra hệ sinh thái thu hút các nhà sáng tạo nội dung, nghệ sĩ quốc tế đến giao lưu, làm việc. Đây là cách để Việt Nam vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại, vừa khẳng định vị thế một trung tâm văn hóa năng động mới
Chiến lược coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là lực lượng nòng cốt để lan tỏa giá trị dân tộc. Các giải pháp bao gồm: đầu tư nâng cấp các Trung tâm Văn hóa Việt Nam, đẩy mạnh dạy tiếng Việt trên nền tảng số và xây dựng mạng lưới "Bạn bè của văn hóa Việt Nam" trên toàn cầu. Qua đó, mỗi kiều bào sẽ trở thành một sứ giả, góp phần gìn giữ bản sắc và khẳng định lòng tự hào dân tộc nơi xứ người.
Chiến lược này chính thức có hiệu lực kể từ ngày ký (17/7/2026), mở ra một chương mới cho công tác ngoại giao văn hóa, góp phần khẳng định vị thế một Việt Nam giàu bản sắc và năng động trên bản đồ văn hóa thế giới.
(Xem văn bản gốc tại đây)
Ngọc An